Catégories
Prose

VÀI KỶ NIỆM VỀ TRƯỜNG LYCÉE FRANÇAIS HUẾ

Wednesday, April 19, 2006

Thân gởi bạn PA,

Rất vui nhận được thư Bạn. Cám ơn Bạn đã viết thư ghi lại nhiều kỷ niệm rất dễ thương về ngôi trường thân yêu của chúng ta hồi xưa ở Huế. Đọc thư Bạn, mình hết sức khâm phục về trí nhớ ‘éléphant’ của Bạn (như bạn DT đã nhận xét rất xác đáng). Có những chi tiết mình không còn nhớ mà Bạn lại nhớ rất chính xác.

Mình như được nhìn thấy lại quang cảnh của Lycée Français Huế ngôi trường xưa và cách thiết trí các lớp học, phòng ốc, khi đọc những câu Bạn viết: “Trường Lycée Français Huế bây giờ vẫn còn như xưa, nhưng không đẹp bằng hồi xưa vì hơi thiếu tu bổ. Cái préau, nơi tụi mình để xe đạp và đứng đấu láo trước khi vô lớp vẫn còn, nhưng ngói mất đi khá nhiều. Lớp 6è của tụi mình ở cuối bâtiment (phía Chaffanjon), gần cổng tụi mình đi xe đạp vô, kế đến là lớp 5è, 4è và 3è, xong đến một cái passage dẫn vô WC bên phải, có cái trống ở trước cửa WC. Bên trái của passage là tam cấp đi ra đường Henri Rivière. Kế cái passage này là lớp Seconde và Première, xong đến bureau và bureau du proviseur (M. Dago) và salle des professeurs.” Thật là tuyệt diệu! Làm sao Bạn có được một ký ức sắc bén như vậy. Mình đọc mà như thấy lại được trước mắt ngôi trường xưa đó.

Rồi cũng với trí nhớ như ‘voi nhớ’ của Bạn, chỉ cần vài nét chấm phá, mình như được nhìn và gặp lại những người xưa, những người lớn, giáo sư, giám thị, nhân viên của trường: “Hồi tụi mình học, M. Moisset dạy Anglais (Édition bleue Carpentier Fialip, Bạn còn nhớ không?). M. Vinciguerra dạy Français lớp 6è. TT là chouchou du professeur đó. Ông cụ Chương (mập bự, luôn luôn mặc áo dài đen) làm Surveillant hay xách tai tụi 6è và 5è, mỗi khi tụi mình nhảy qua cửa sổ (‘faire la fenêtre’) để ra sân chơi. Ông Chương nặng tai nên mỗi lần nói là phải la lớn. Ông cụ Dương (luôn luôn mặc complet, cravate) là Surveillant Général, ông này thực dân hơn Tây. Maman của Thâm làm Surveillante mấy cô con gái thì phải và làm luôn trong văn phòng (bureau) nữa.” Ôi! Người xưa, cảnh cũ! Nay kẻ còn, người mất!

Tiếp đến, cũng bằng vài nét chấm phá tài tình, Bạn ghi lại hình ảnh của vài bạn học xưa:
– Bạn DT: “Ông ‘Philosophe’, với cặp kính cận, với mái tóc bồng bềnh, hơi quăn, đạp xe đạp đi khắp phố phường mỗi buổi chiều nhưng không cần đến đâu hết, cứ tà tà…
– Bạn NDT: “Rất hiền, chỉ cười thôi và rất ít nói… Làm moa nhớ lại hồi nhỏ (ở École Primaire Française) chỉ có bạn và moa thường hay mang giày đóng ở tiệm giày Đồng Dụng đường Trần Hưng Đạo Huế…

Bạn PA ơi, sao Bạn không cho mình đọc thêm về vài nét chấm phá về các bạn khác: ND, TT, NT v.v… Mình nhớ vào cuối niên học 5è (1955), trong khi hơn 1 triệu đồng bào từ miền Bắc hối hả di cư vào Nam, thì NT đã theo mẹ đi luôn ra Bắc, vì người cha không muốn vào Nam. Về bạn DT, mình công nhận Bạn đã phát hoạ đúng ‘y chang’ người bạn cũ của chúng mình hồi đó “với cặp kính cận, với mái tóc bồng bềnh, hơi quăn, đạp xe đạp đi khắp phố phường…”. Riêng về bạn NDT nào đó… Hihi ;)… vì quá lâu ngày (nửa thế kỷ rồi, còn gì!) mình cũng không còn nhớ rõ lắm về người bạn đó nữa, không biết bạn đó có thật là “rất hiền, chỉ cười thôi và rất ít nói” không? Mình cũng không còn nhớ bạn đó mang loại giày gì nữa, chứ đừng nói gì chuyện nhớ cả tên tiệm giày Đồng Dụng ở đường Trần Hưng Đạo, như ký ức phi thường của Bạn được.

Về các giáo sư dạy bọn mình hồi đó, trong hai niên học 6è và 5è ở Lycée Français Huế, mình chỉ còn nhớ tên 3 profs: M. Decoux (dạy cả 3 môn Maths, Sciences Naturelles và Dessin), M. Bernier (dạy Français lớp 5è) và M. Moisset (dạy Anglais). Bạn PA thì bổ túc thêm M. Vinciguerra (dạy Français lớp 6è). Còn bạn DT thì biên thư cho tụi mình nhắc thêm tên hai profs khác: Mlle De Gantes (dạy Histoire & Géographie) và M. Tạ Đình Cung (dạy Việt Văn). Nhưng thú thật, bây giờ được bạn DT nhắc lại, mình cũng chỉ còn nhớ được thêm tên Mlle De Gantes (dạy Histoire & Géographie) mà thôi, còn M. Tạ Đình Cung thì mình hoàn toàn quên tên không nhớ gì cả, bây giờ mới nhìn được hình dung của ổng nhờ ở mấy tấm hình kỷ niệm mà em mình Quỳnh Chi mang theo được.

Mình còn nhớ trong lớp học, M. Decoux có chọn và cho treo các dessins của học sinh, chắc các bạn còn nhớ. Còn M. Bernier thì có vẻ rất thích auteur Alphonse Daudet, vì có cho học sinh bọn mình học thuộc lòng quelques morceaux choisis lấy từ cuốn “Lettres de mon Moulin”, những paragraphes ngắn vừa cỡ một trang giấy vở học trò, lấy ở phần đầu của mỗi truyện như: “La Chèvre de Monsieur Seguin” (“Monsieur Seguin n’avait jamais eu de bonheur avec ses chèvres. Il les perdait toutes de la même façon, un beau matin, elles cassaient leur corde, s’en allaient dans la montagne, et là-haut le loup les mangeait…”) hoặc “Le Sous-Préfet aux Champs” (“M. le sous-préfet est en tournée. Cocher devant, laquais derrière, la calèche de la sous-préfecture l’emporte majestueusement au concours régional de la Combe-aux-Fées…”) hoặc “Le Secret de Maître Cornille” (“Francet Mamaï, un vieux joueur de fifre, qui vient de temps en temps faire la veillée chez moi, en buvant du vin cuit, m’a raconté l’autre soir un petit drame de village dont mon moulin a été témoin il y a quelque vingt ans.”)…

Hồi học lớp 5è, mình còn nhớ có một lần tất cả các lớp đều được dẫn cho đi xem đoàn kịch nổi tiếng La Comédie-Française từ bên Pháp qua trình diễn vở kịch “Le Bourgeois Gentilhomme” (hay “Le Malade Imaginaire”?) của Molière ở rạp Morin.

Cuối niên học 5è, mình nhớ được lãnh phần thưởng cả 3 môn học với M. Decoux (Maths, Sciences Naturelles và Dessin), và cũng có lãnh thêm một phần thưởng về môn Français với M. Bernier nữa. Bạn PA ơi, nhìn lại tấm hình chụp ngôi trường xưa trên đây mà mình cảm thấy trong lòng bồi hồi thương nhớ luyến tiếc làm sao! Biết bao kỷ niệm êm đềm xa xưa chúng ta đã cùng nhau theo học dưới mái trường thân yêu đó. Cũng như Bạn cho biết, trong dịp về thăm VN gần đây, vì nhà ở gần Lycée Français Huế, nên chiều chiều Bạn hay rảo bộ đến Lycée để nhớ lại hồi xa xưa đó.

Bạn PA ơi, các Bạn ơi, tuy chúng mình chỉ học chung với nhau trong hai niên học 6è và 5è ở Lycée Français Huế ngôi trường xưa thân yêu đó, cách đây đã tròn nửa thế kỷ, nhưng những kỷ niệm được nhắc lại trên đây thật là dễ thương làm sao, phải không các Bạn? Mỗi người trong chúng ta đều có cất giữ sâu kín trong lòng một ngôi trường thân yêu nhất – ngôi trường thân yêu đó có thể là một ngôi trường tiểu học, trung học hay đại học. Không hiểu sao, trường Lycée Français Huế chính là ngôi trường mà mình nhớ đến nhiều nhất.

Trong một lá thư gần đây, bạn TT có viết cho mình: “Ngày xưa… nghe xa xôi ghê, nhưng đọc thư bạn lại cứ tưởng như tụi mình vẫn gặp nhau hàng ngày, vẫn cùng trường cùng lớp… Chỉ cần một chút ‘imagination’ và yêu thương thôi phải không bạn?” Đúng vậy TT ạ, Th. cũng thích được sống nhiều về kỷ niệm, vì kỷ niệm bao giờ cũng sâu đậm, thiết tha hơn thực tế hiện tại nhiều lắm. Có một điệu hát đã xưa, bây giờ Th. còn nhớ lại ít câu:

         “Il est un âge dans la vie,
          Où chaque rêve doit finir,
          Un âge où l’âme recueillie
          A besoin de se souvenir…

Bạn PA ơi, Bạn nói rất đúng, chúng mình không đứa nào là không có ăn bánh mì nóng ở Chaffanjon. Bây giờ đây, trong tâm tưởng, mình vẫn còn như được ăn mãi ổ bánh mì thơm ngon nóng dòn đặc biệt đó…

Thân mến chào bạn PA và tất cả các Bạn, và thân chúc các Bạn luôn luôn vui mạnh.

NDT


Thursday, April 27, 2006

Bạn PA thân mến,

Rất vui nhận được thư mới đây của Bạn đề ngày 22 Apr 2006. Cám ơn Bạn đã ghi lại thêm một số kỷ niệm rất dễ thương của hai năm học ở Lycée Français Huế hồi xưa. Đọc thư Bạn, mình phải công nhận Bạn là người có nhiều tình cảm và có tâm hồn gắn bó nhiều với những kỷ niệm đã qua, như Bạn viết: “Nhiều lúc trời mưa tự dưng lại nhớ lại những vũng nước đọng trong sân trường Lycée Français Huế…”. Có nhiều chuyện tưởng chừng đã quên bây giờ được Bạn nhắc lại một cách rõ ràng đầy đủ chi tiết. Đúng như Bạn viết: “Những năm 6è và 5è ở Lycée Français Huế khó mà quên lắm.

Bạn hỏi mình đi tìm ‘tự do’ chắc là thảnh thơi lắm hay sao mà còn đem theo được mấy tấm hình kỷ niệm ‘staff’ (personnel) của Lycée Français Huế, xin trả lời Bạn mấy tấm hình kỷ niệm đó là của em mình Quỳnh Chi mang theo được. Lúc chúng mình học Lycée Français Huế thì em mình (nhỏ hơn mình 4 tuổi) đang học École Primaire Française gần cạnh Lycée Français. Trong một courriel mới đây, em mình viết: “Merci pour les belles photos; celle du Lycée Français me ramène à ma petite enfance où chaque jour j’avais l’habitude à y venir chercher Maman après la classe… Ma petite amie à l’École Primaire Française s’appelait Hồng Vân dont j’ai perdu le contact depuis que l’école fut déménagée à Đà Nẵng.

Trong mấy tấm hình kỷ niệm ‘staff’ này, với trí nhớ siêu đẳng Bạn đã nhận biết ra được khá nhiều người. Bạn còn nhận ra được hình 1 trên đây chụp ở sân École Primaire Française (gần cạnh Lycée Français) và hình 2 chụp ở nhà M. Dago (le Proviseur), nằm ngay góc đường Hàng Đoát và đường Chaigneau (nay là đường Lý Thường Kiệt) gần trường Providence. Mình thật khâm phục Bạn hết sức, nhớ cả người nhớ cả cảnh vật. Trí nhớ của Bạn đúng là một chiếc máy ảnh, đã ‘chụp hình’ người nào hay cảnh vật nào vào trong ký ức, thì cho dù trong bao nhiêu năm trời cũng như là một tấm hình mới chụp hôm qua hay hôm kia mà thôi.

Bạn PA ơi, Bạn cho biết năm tụi mình học 6è, Bạn ngồi sau lưng ND, TT và NT, ở dãy bàn bên phải của lớp, cạnh cửa sổ nhìn ra sân và préau để xe đạp, làm mình nhớ lại hồi đó mình ngồi ở bàn đầu của dãy bàn ở giữa và TCD ngồi bên phải mình. Hình như trong mỗi lớp học có 3 dãy bàn và mỗi dãy có khoảng 4 hay 5 bàn gì đó, mỗi bàn ngồi 2 hay 3 người, có đúng không các Bạn? Mình còn nhớ, có lẽ vì mình ngồi ngay bàn đầu hay là vì mình cũng rất khá về môn Maths (vì cuối năm học mình được lãnh phần thưởng), cho nên vào giờ toán M. Decoux hay kêu mình cầm vở lên bảng để chép solution các bài Maths cho cả lớp chép lại.

Cũng vì mình đã quen ngồi ở bàn đầu của dãy bàn ở giữa ngay từ năm tụi mình học lớp 6è, cho nên qua niên học sau, khi tụi mình lên lớp 5è, mình cũng chọn ngồi ở bàn đầu của dãy bàn ở giữa, cùng với TCD ngồi bên phải mình.

Về các cô bạn trong lớp, mà mình chỉ còn nhớ 3 tên là ND, TT, NT (như mình đã nhắc đến ngay trong thư đầu tiên gởi các bạn), bây giờ được Bạn nhắc thêm một tên mới LM mà mình không còn nhớ. Mình rất vui được nghe Bạn tiết lộ thêm nhiều điều thú vị: “Nói đến ND, TT, NT và LM thì không những tụi mình đều biết, mà tất cả đám con trai học Lycée Français Huế lúc bấy giờ đều biết hết. Chàng nào cũng ngăm nghe nhưng toàn là thỏ đế, nên không chàng nào làm ăn gì được hết. Có nhiều chàng lại làm quen với moa để nhờ làm mai làm mối. Thật là buồn cười. Học cùng lớp với nhiều người đẹp lắm lúc cũng vất vả…” Rồi Bạn kể tiếp: “Tuỳ theo mùa, moa ngồi ngay sau lưng hay được các nàng passer kẹo, đậu phụng rang hay me chua v.v…”. Bạn PA ơi, chuyện đã 50 năm hơn, bây giờ mình nghe Bạn kể lại vẫn còn… cảm thấy hơi ấm ức phân bì với Bạn đấy, vì hình như mình không hề được các ‘nàng’ passer kẹo bánh như Bạn cả. Nhưng mình nói đùa cho vui vậy thôi, vì Bạn ngoài trí nhớ ‘éléphant’ phi thường còn là “người đệ nhất tài hoa” (như lời DT) thì mình đâu dám đòi hỏi được như Bạn nhỉ?

Tuy không được ăn kẹo bánh của các nàng cho, nhưng mình còn nhớ, cuối năm học 5è, mình được ít cô nàng trong lớp trao cho mấy cuốn sổ lưu niệm để viết ít giòng lưu bút (mỗi người một trang) vào đó và mình cũng được ít nàng viết vào cuốn sổ lưu bút của mình nữa. Nhưng tiếc rằng về sau cuốn sổ lưu niệm của mình bị thất lạc hồi nào không hay, có lẽ do những lúc gia đình dọn nhà thay đổi chỗ ở hoặc lúc cả gia đình mình rời bỏ Huế để vào Nam.

Ôi! biết bao kỷ niệm thân yêu chúng ta còn giữ lại trong tâm hồn! Thỉnh thoảng mỗi khi muốn hồi tưởng lại một vài kỷ niệm thân yêu của một thời đã qua, mình lại leo lên căn gác quạnh quẽ cô liêu của miền ký ức địa đàng xa xưa nhưng vẫn còn đượm chút hương xưa phảng phất đâu đây, và mở nắp cái rương hòm đầy phấn bụi mốc meo của thời gian – cái rương hòm của ký ức mà người ta thường cất giữ những thứ lỉnh kỉnh của quá khứ, vất đi không nỡ mà cất giữ cũng chẳng mấy khi dùng đến – rồi lục lọi một cách bâng quơ dưới đáy rương hòm ký ức và bất ngờ tìm lại được những hình ảnh xưa cũ đã phai mờ, những khuôn mặt thân thương đã lâu ngày không gặp lại… Lúc đó mình như được sống lại với những người xưa và những cảnh vật đã quen thuộc, những kỷ niệm vui buồn của một thời đã qua, và trong lòng không khỏi cảm thấy chút gì bồi hồi lưu luyến thương nhớ thiết tha…

Trong một thư mới đây, bạn DT viết cho mình rất chí tình: “Toa nói đúng: không có toa trong những kỷ niệm lỉnh kỉnh. Chỉ có những kỷ niệm lỉnh kỉnh chúng nó ở trong toa. Bứt (arracher) con người ra khỏi kỷ niệm, dễ thôi. Bứt kỷ niệm ra khỏi con người, dường như khó hơn.

Bạn PA ơi, thư viết cũng đã khá dài, Bạn cho mình tạm ngừng ở đây nhé. Thân mến chào bạn PA và tất cả các Bạn, và xin chúc các Bạn cùng gia đình luôn luôn vui mạnh.

NDT

P.S. Bạn DT ơi, Bạn nói rất đúng: “Kỷ niệm không là gì, khi thời gian bôi xoá. Kỷ niệm là tất cả, khi lòng ta muốn ghi.


Sunday, April 30, 2006

Các Bạn thân mến,

Hôm qua nhận được một coup điện thoại rất là đặc biệt: đó là điện thoại của bạn Hầu Hàn Xuân, một người bạn rất thân của tui từ 50 năm trước.

Xuân cho biết sau khi bắt liên lạc được với bạn DT mới có số phone của tui.

Xuân và tui làm bạn thân từ 1949 khi hai đứa cùng học chung một lớp ở École Primaire Française de Huế (Cours préparatoire, bây giờ là 11ème thì phải). Không những thế, mà hai đứa cùng đi về một đường. Đi ngang qua Morin, qua cầu Trường Tiền (chỉ có Bắc kỳ mới kêu cầu Tràng Tiền), rẽ phải ở đường Trần Hưng Đạo, đến cầu Gia Hội. Xuân qua cầu để về nhà ở Bến đò Cồn (xa lắm), còn tui rẽ xuống đường Gia Long để về nhà ở đường Hàng Bè (đi đường Gia Long vui hơn vì có phố xá).

Năm hai đứa học Cours Élémentaire, không biết ngẩu nhiên như thế nào mà hai đứa lại có hai cái áo mưa giống nhau, nên nhiều khi tan học hai đứa lại mặc lộn áo của nhau. Các bạn còn nhớ loại áo mưa nylon mà hồi đó tụi mình hay mặc: có capuchon nhưng không có hai tay, như vậy xách cặp khỏi bị ướt. Hồi đó Xuân và tui đứa nào cũng có một cái màu maron.

Hồi đó có NDThâm nữa, nhưng không thân vì NDT đi về đường khác.

Sau khi thi đậu concours để lên 6è ở Lycée Français Huế thì tụi này lại học cùng lớp nữa. Cùng lớp có: NDThâm, Như Huệ (con An Nhơn), Hồng Vân (con Restaurant Như Ý, Au Bon Goût), Lê thị Hoa (con tiệm vải Lê Văn Hiệp), Phương Lan, Tuyết Mai và Nguyễn Hồng Công. Lên 6è tụi này còn gặp thêm bạn mới: DT, NTN, ND từ Tourane ra, NT, LM từ Jeanne d’Arc qua, TT từ Couvent des Oiseaux Dalat xuống…

Cuối năm học 5è (1955), Lycée Français Huế đóng cửa, Xuân không vô Tourane học khi Collège Français mở cửa. Hè những năm 1956, 1957 tui còn đến nhà thăm Xuân mỗi khi ra Huế chơi.

Những năm chiến tranh mỗi đứa một nơi nhưng tui luôn luôn nhớ đến Xuân và Công (lẽ cố nhiên là phải nhớ đến những người bạn xinh hơn – không phải là DT, NTN và NDT…).

Nhân dịp về Huế trong những năm vừa qua, tui đều có xuống khu Bến đò Cồn, dừng trước cửa nhà Xuân dò xét xem có ai quen ở trong nhà không, nhưng không “dám” vào vì sợ gặp “chủ mới”. Hôm qua nói chuyện với Xuân mới biết Xuân cũng làm như vậy khi đi qua nhà tui ở Huế.

Đứng trước cửa nhà Xuân nhìn vào, tui cứ tưởng mình nhìn thấy mấy cây trái trứng gà mà hồi xưa Xuân thường hay hái cho tui, nhưng khi về đến nhà mình, thấy những cây nhỡn (nhãn) và những cây đào tiên (mận) đã chết từ lâu mới biết là mình đã quá tưởng tượng.

Lần cuối cùng tui nói chuyện với các bạn: HHX, DT, NTN, NDT, ND, TT, NT, LM, PL và TM… thì tụi mình chỉ là những đứa học trò 17, 18 tuổi, bây giờ liên lạc lại được thì tụi mình tóc đã hai màu muối tiêu.

30 tháng 4 năm 1975 tui tưởng là mình mất tất cả, nhưng đến 30 tháng 4 năm 2006 tui lại tìm lại được những người bạn của tuổi ngây thơ.

NVPA

PA gởi DT: Email vừa rồi của toa moa không nhận được, may nhờ có reply của NDT nên mới đọc ké được. Làm gì mà đi Paris hoài vậy, có người “em văn nghệ” ở trên đó hay sao? 😉


Thursday, June 29, 2006

Bạn NDT thân mến,

NTN đã nhận được rất nhiều e-mails của Bạn từ ngày đổi về cái địa chỉ mới này.

Rất cảm ơn Bạn đã cho biết nhiều thông tin rất quý về trường Lycée Français Huế. Năm ấy NTN cùng với DT ở Tourane ra Huế học lớp 5è, sau khi 2 đứa vừa đậu Certificat d’Études Primaires (CEP) xong.

Mình còn nhớ vì nhảy cóc lớp 6è nên không biết một tí gì về Anglais cả. Và người thầy dạy vỡ lòng môn này cho riêng mình chính là M. Decoux. Mình học đâu được vài ba tuần gì đó tại nhà riêng của Ông ấy, cũng ở gần Lycée Français thôi. Và chính vì chỉ học được có một ít Basics nên mình rất sợ môn này và sợ Ông Moisset quay bài. Đứng trước bảng đen mà ‘bị’ thì ê lắm!… Cuối cùng chỉ còn cách là cái gì cũng học thuộc lòng hết cho chắc ăn. Cảnh xa nhà và học trường mới, bạn bè lúc đầu niên học cũng ít, đi chơi rong cũng ít, nên bao nhiêu thì giờ dồn vào để học gạo. Có cô bạn nhà NTN ở trọ thường gọi mình là ‘con mọt sách’…

Bạn NDT ơi, lớp 5è hồi đó tụi mình học chung với nhau thật là một lớp làm kỷ niệm. Nhớ không, hồi xưa ấy Thầy Tạ Đình Cung dạy Việt Văn cho lớp học một lúc cả 3 bài Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến. Thật là những bài thơ Thu để đời. Rồi vào cuối niên học 5è, lại có một Thu ra đi không bao giờ trở lại, đã gieo ngẩn ngơ cho lắm kẻ học trò “nghèo mà ham”, vì trót mang trong người giòng máu nghệ sĩ đầy ăm ắp, lúc nào cũng muốn tuôn trào… NTN còn có nhiều kỷ niệm với Bạn nữa. Mà kỷ niệm nào cũng thật là đẹp, thật là đáng ghi nhớ cả.

NDT ơi, tấm ảnh NTN gởi cho Bạn trên đây là ảnh lớp 5è đó. Dãy bàn thứ nhất_từ trái sang phải là ND, rồi đến NT, người đã bỗng dưng biến khỏi lớp học vào cuối niên khoá để cùng với Mẹ tập kết ra Bắc với Cha, rồi đến (X)_Xin lỗi, phải nhờ cậy TT hay NVPA cùng quan sát kỹ và giải đáp giùm.

Đến dãy bàn ở giữa, ngồi đầu bàn thứ hai chính là NTN. Mình còn nhớ kỳ thi đầu tam cá nguyệt, môn Histoire Mlle De Gantes cho mình tới 19/20 (chỉ là học gạo và viết lại y như sách học mà thôi!). Theo yêu cầu, mình nhớ có truyền lên cho ND và NT xem bài này.

Đến dãy bàn thứ ba, phía bên phải của lớp, cạnh cửa sổ nhìn ra sân: Xin lỗi vì lâu quá rồi nên NTN cũng chịu thua. Không biết có phải NVPA không?

Tiếc thay học trò xứ Quảng vác lều chõng ra đất Thần Kinh chỉ được vỏn vẹn có đúng một niên khoá! Kẻ học trò này hồi ấy có lúc còn mặc quần short đi học hay đạp xe đạp đi chơi. Có NDT, NVPA, Albert Poignard, Nguyễn Bôn… làm bạn. Chúng ta đã tới thăm các Lăng Thiệu Trị, Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định… Hoặc vào Thành Nội, đi chơi Hồ Tịnh Tâm… Hoặc xuống Đập Đá, đi chơi Cửa Thuận… Hoặc lên Kim Long, ngắm cảnh Chùa Thiên Mụ…

Ôi! Kỷ niệm một thời đã qua nhưng hồi tưởng lại vẫn còn thấy lý thú làm sao!

Khi trở về Đà Nẵng học Collège Français de Tourane thì NDT với NTN vẫn còn chơi correspondance với nhau. Bạn có gởi tặng mình một số hình đi thăm các lăng tẩm. Bạn cũng mặc quần short, mang cặp kính râm. Những tấm hình này mình đã mất hết! Bây giờ chỉ còn nhớ trong đầu mà thôi. Chính Bạn gọi mình là ‘Ông Bạn Buồn’. Bạn đã quên rồi phải không? Rồi… Lần chót chúng ta gặp nhau là tại chính nhà Bạn ở đường Nguyễn Duy Dương, gần Ngã Bảy Chợlớn. Đường Minh Mạng quẹo trái Nguyễn Duy Dương là gặp nhà Bạn ngay, đúng không?

Bây giờ may mắn biết nhau trong Cyber Space, thực sự thì Bạn ở đâu? Phone cho nhau được không?

 Và sau đây là lời tiếng Pháp của bài “Reviens à Sorrente” (Torna a Surriento) mà NTN còn nhớ được, vội ghi ngay lại gởi đến Bạn cho trọn bài hát này và trọn tình xưa.

Lyrics của bài “Reviens à Sorrente” như sau:

          Vois comme la mer est belle!
          Elle a pris à ta prunelle
          Sa fulgurante étincelle
          Et le charme de tes yeux!

          Mais quelle senteur exquise
          Aux caresses de la brise?
          C’est l’oranger qui nous grise
          D’un parfum mystérieux!

          Et toi, quand tout nous enivre,
          Quand l’amour à toi se livre,
          Tu voudrais loin d’ici vivre!
          À Sorrente dire adieu?

          Non, reviens, mon amour!
          Viens aimer à Sorrente!
          Mon coeur de ton baiser
          Veut se griser…

          Mais le soir déjà s’achève,
          Les flots s’endorment sur la grève;
          Et ton ciel qui se soulève
          Semble céder à mes voeux.

          Viens! Dans les splendeurs sereines
          Passent les voix des Sirènes,
          Les désirs aux joies prochaines,
          Les bonheurs voluptueux.

          Et toi, quand tout nous enivre,
          Quand l’amour à toi se livre,
          Tu voudrais loin d’ici vivre!
          À Sorrente dire adieu?

          Non, reviens, mon amour!
          Viens aimer à Sorrente!
          Mon coeur sans ton baiser
          Peut se briser!

NDT ơi, hồi ấy Bạn đúng là ông bạn ít nói đấy. Nhưng coi chừng “tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi” đấy. Kidding thôi đừng giận nghe. À, nếu Bạn có lời Việt bản “Torna a Sorrento” của Phạm Duy thì gởi cho mình nghe. Cám ơn trước.

Thân,

NTN

*** Ghi thêm của NDT:

Bạn Yuan ‘OBB’ NTN ơi,

Mình rất khâm phục trí nhớ của Bạn vì Bạn còn nhớ rõ chỗ ở của mình ở đường Nguyễn Duy Dương (số nhà 155 cho được chính xác) gần Ngã Bảy Chợlớn thì đúng y bon rồi đó.

Tấm hình Trường Lycée Français Huế ở đầu trang trên đây của Bạn chụp vào năm 1955 rất là đẹp và rất hiếm quý. Bạn đã đứng ở mép bên phải phía trước Bưu điện Huế để có thể chụp được bao quát toàn thể quang cảnh của ngôi trường thân yêu của chúng ta, bắt đầu từ đường Henri Rivière cho đến cuối bâtiment về phía Chaffanjon.

Và đây là mặt sau của 2 tấm hình mà Bạn còn lưu giữ được, và Bạn đã scan ra máy gởi cho NDT để tui được dịp xem lại bút tích và chữ ký của người bạn NDT nào đó của cái thời đi chơi lăng tẩm năm 1955 ở Huế:

Nhìn lại nét chữ viết và chữ ký của người bạn NDT nào đó của cái thời đi chơi lăng tẩm năm 1955 ở Huế, tui rất lấy làm vui thích và nhận thấy người bạn ấy khi thì viết chữ nghiêng khi thì viết chữ đứng, và ngay chữ ký của bạn ấy cũng thay đổi trong cùng một niên học!? 🙂

BTW, theo tui được biết, người bạn ấy đã thay đổi chữ ký kể từ khi lên Đại Học Sàigòn năm 1960 và dùng mãi cho đến bây giờ, và nét chữ viết của bạn ấy bây giờ, tuy là cũng viết chữ đứng nhưng có vẻ hơi khác so với nét chữ viết của bạn ấy của cái thuở xa xưa đó. Hihi 🙂

Xin cám ơn ‘Ông Bạn Buồn’ NTN đã gởi cho NDT tui mấy tấm hình “Auld Lang Syne” (old times gone by) trên đây của cái thời xa xưa ấy…


Tuesday, October 14, 2008

NDT thân mến,

Vừa rồi đọc hai bài viết “Vài Kỷ Niệm Về Trường Lycée Français Huế” trên website của Thâm, mình rất vui khi nhận được tin các bạn học cũ ở Lycée Français Huế. Mình như thấy lại hình ảnh xưa đang hiện về. Mình đã nhớ lại rất nhiều khuôn mặt của các Thầy, các Bạn của Lycée Français Huế mà từ lâu không được ai nhắc đến.

Đọc thư hai bạn NDT và PA trao đổi với nhau về trường Lycée Français Huế, mình không ngờ hai bạn lại có trí nhớ tuyệt vời như thế, kể rõ chi tiết của từng người bạn. Hình ảnh của các bạn đang dần dần hiện rõ trước mặt mình, thật vô cùng xúc động.

Nhưng người mà mình nhớ rõ nhất là NDT, vì ngoài tình bà con, nhà lại gần nhau vì ở cùng đường Nguyễn Huệ. Còn tên các bạn khác thì tuy viết tắt nhưng mình cũng đoán được: DT là Đặng Tiến, TT là Thanh Thanh, NT là Nguyệt Thu, ND là Như Đường… Riêng bạn PA mình không biết có phải là N.V.Ẩn như mình nhớ tên không? Mình còn nhớ thêm vài bạn khác như Lệ Mai, H.H.Xuân, N.V.Bái (có tiệm Phú Vinh ở ngã giữa). Trong lớp còn có hai bạn gốc Hoa nhưng mình chỉ nhớ có mỗi một bạn có tên Yuan?

Một số bạn mình nhớ vì có những điểm rất đặc biệt: trước hết là Thanh Thanh rất xuất sắc về môn Français, Như Đường hình như là hoa khôi, còn Nguyệt Thu mình nhớ là vì hình như có bà con với gia đình mình, sau đó thì theo mẹ ra Bắc vào cuối năm 1955. Như Huệ thì ở đường T.H.Đạo và còn cô bạn nữa mình khó quên là Hồng Vân, trước 1975 có dạy ở Bách Khoa Sàigòn, ngôi trường mà mình đã tốt nghiệp năm 1965.

Sau khi đọc thư các bạn, mình thấy như trẻ lại và cứ nghĩ như đang cùng ngồi trong lớp với nhau, cùng các giáo sư như Vinciguerra, Bernier, Decoux, Moisset, mình nhớ không chính xác là cô Mlle Bugnot nữa thì phải?

Hồi đó mình là học sinh nhỏ con nhất lớp, tóc thì hớt court, học thì không brillant lắm nên ít giao thiệp với bạn bè, do đó mà có lẽ rất ít bạn còn nhớ đến mình, ngoại trừ NDT.

Cuối năm học 5è, vì gia đình không có điều kiện nên mình không thể tiếp tục vào học ở Đà Nẵng được nên phải chuyển qua học ở trường Quốc Học, cho đến năm 1961 vào học tại Sàigòn và ở lại lập nghiệp mãi cho đến bây giờ. Tuy lập nghiệp ở Sàigòn nhưng mỗi năm mình đều có về thăm Huế.

NDT ơi, nhờ Thâm chuyển lời cho mình thăm hỏi tất cả các bạn cũ ở Lycée Français Huế. Nếu bạn nào có dịp về VN đừng ngần ngại báo tin, hy vọng mình sẽ có những cuộc gặp thân mật. ooOoo

Đọc các bài viết của các bạn NDT, NVPA, NTN với nhiều kỷ niệm khó quên của thời học sinh dưới mái trường Lycée Français Huế thân yêu, mình xin mạnh dạn đóng góp thêm vài kỷ niệm về trường Lycée Français Huế, theo lời đề nghị của NDT cũng như khuyến khích của NVPA và NTN.

Trước hết, phải khẳng định mình là dân kỹ thuật nên việc viết lách không thể nào sánh bằng NDT ông cử văn chương, DT nhà phê bình văn học nổi tiếng, NTN với lời văn nhẹ nhàng, TT vui nhộn và NVPA có trí nhớ thật đặc biệt, vì vậy mong các bạn thông cảm nếu có sai sót.

Trong lớp, mình còn nhớ NDT ngồi ở bàn đầu của dãy bàn ở giữa và mình ngồi bên phải NDT. Lệ Mai và NDT rất xuất sắc trong môn Dessin, thường có hình vẽ được M. Decoux chọn để treo trong lớp.

Mình học trường Ta (Pellerin) bị gia đình ép buộc thi vào lớp 6è trường Tây (Lycée Français Huế) với ý định sau này đi du học. Thi tuyển chỉ có Français và Maths, môn Maths mình được điểm max (18/20 hay 19/20) còn môn Français thì bị notes éliminatoires, nhưng cuối cùng M. Dago (le Proviseur) vẫn đặc cách cho mình được nhập học, khởi đầu cho những khó khăn mà mình phải đối phó, mình luôn được xếp hạng cao nhất nếu tính ngược từ dưới lên!!!

NVPA đã từng nhận xét: “Tui còn nhớ bạn TCD hồi đó người nhỏ con, da không được trắng, tóc hớt court, luôn mặc quần short, đi xe đạp yên đã hạ xuống hết mức rồi mà bạn còn phải nhón chân đạp pédales, học thì không brillant lắm nhưng đá banh thuộc loại khá…

Mình còn nhớ, trong lớp 5è có hai người bạn gốc Hoa mà một người tên Yuan có giọng đọc rất truyền cảm trong giờ học Việt Văn của Thầy Tạ Đình Cung, khi Thầy cho lớp học 3 bài Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến. Bạn DT đã xác nhận tên hai người bạn gốc Hoa đó là Ngô Trung Nguyên (Ou Tcheong Yuan) và Dư Chấn Thanh. Bạn NTN cũng có bài viết về kỷ niệm với trường Lycée Français Huế, có nhắc tới người bạn NT cuối năm học đó đã theo mẹ ra Bắc để gặp cha, trong khi người dân miền Bắc cả triệu người lại ùn ùn di cư vào Nam.

NDT và mình ở cùng đường Khải Định (Nguyễn Huệ hiện nay) nhà lại ở gần nhau, nên thường hay đi học chung với nhau. Trong lớp, NDT học giỏi môn Sciences Naturelles do M. Decoux dạy và mình cũng thích môn này. Vì nhà NDT ở đường Khải Định, phía trước mặt bên kia đường có một thửa đất trống cỏ mọc xanh tươi nên có nhiều chuồn chuồn, mình và NDT bắt được nhiều con màu sắc thật đẹp, mình đem về ngâm formol rồi dùng colle dán vào một nhánh cây khô, sau đó mình và NDT đem vào lớp, được M. Decoux khen và cho phép đặt trên tủ tư liệu của lớp 5è. Câu chuyện này được NDT nhắc lại khi cả hai đứa gặp lại nhau tại Montréal, Canada năm 1994.

Cuối năm học 5è (1955), trường Lycée Français Huế đóng cửa và học sinh phải chuyển vào Đà Nẵng học khi Collège Français mở cửa. Mình không có điều kiện đi Đà Nẵng, vì Cụ thân sinh từ ĐN đã chuyển công việc về Huế từ năm 1953, nên buộc lòng mình phải chuyển từ trường tây Lycée Français Huế về trường ta Quốc Học. Đây cũng là niềm vui của mình, vì không biết sau 2 năm nữa, mình có thi đậu BEPC (Brevet d’Études du Premier Cycle) nỗi không, nếu cứ tiếp tục theo học trường Tây?

Trong dịp đầu Xuân năm nay (tháng 3/2018), nhân chuyến về Huế mình có đi thăm lại ngôi trường xưa Lycée Français thân yêu của chúng ta. Cảnh vật đã thay đổi đi nhiều: Trường thì sơn sửa lại và xây cất thêm ở phía sau, sân chơi bị thu hẹp không còn vẻ ấm cúng và thơ mộng như ngày xưa… và mình cũng thực hiện một clip ngắn về ngôi trường xưa để lưu giữ. Không chừng vài năm nữa ngôi trường này sẽ biến mất hoàn toàn vì bị phá bỏ để xây cất lại một công trình khác thì mọi kỷ niệm xưa về mái trường thân yêu chỉ còn trong ký ức và “hoài niệm”!!!

Chaffanjon bên kia đường cũng biến mất. Không còn tìm thấy cái trống ở passage từ phía tam cấp đi ra đường Henri Rivière. Còn cái préau hồi xưa học sinh tụi mình để xe đạp thì xây thêm lầu để làm lớp học… Thật đúng như NVPA đã từng viết cho NDT: “Cái nhà Ông Proviseur Dago nay đã bị démolir rồi, không còn nữa, tụi nó đang xây không biết cái gì, có lẽ building hay hotel gì đó. Buồn ghê hí, di tích và kỷ niệm tuổi thơ của tụi mình nay đã bị xóa bỏ lần lần…

TCĐ

Link YouTube : Lycée Français Huế (20-3-2018)
https://www.youtube.com/watch?v=hWkstKYeIcg


Monday, February 12, 2018

Thân chào Trúc Huy và các Bạn,

Trước hết mình xin giới thiệu là hiện đang ở Na Uy thuộc Bắc Âu, xứ tuyết lạnh phủ trắng một màu, nhưng bảo đảm là rất đậm tình người.

Thể theo lời đề nghị của Trúc Huy muốn mình viết vài kỷ niệm về Trường Lycée Français Huế, mình xin mạo muội đôi giòng, thời gian trôi tuổi đời chồng chất chắc là không nhớ hết, nhưng thôi thì cũng ráng nhớ được chừng nào hay chừng đó. Nói về kỷ niệm về trường cũ, người xưa thì không bút mực nào tả xiết, phải không các Bạn? ooOoo

Trong các email cũ của bạn hữu có đề cập đến Trường Chaigneau, thật ra ngày xưa mình có quyển sách nói về xuất xứ tên này, có in những hình ảnh xa xưa về Huế và mình đã được thân phụ kể lại nó liên quan với ông Michel Duc, nhưng hôm nay rất tiếc không nhớ hết.

Thời đó Lycée Français Huế năm 1952-1953, M. Dago vừa lên thay thế M. Cossara làm Directeur, ông này trở về phụ trách hãng máy bay Cossara đi quốc nội. Lúc bấy giờ bạn cùng lớp mình, vì còn nhỏ thời… bàn đầu có Marie Poignard, Mộng Hoa và chị Nhược Pháp (chị của NVPA) và Paulette Poignard. Các giáo sư gồm có Mme Vacher dạy Français, M. Leeman dạy Maths, M. Moisset dạy Anglais, M. Decoux dạy Sciences Naturelles, Mlle De Gantes dạy Histoire & Géographie…

Mình được biết, trong hai niên khoá 1953-1955, Trúc Huy học chung lớp với Thanh Thanh, Như Đường và Nguyệt Thu… Sở dĩ nhớ vì mình có bạn thân lúc đó là Nguyễn Như Lộc, anh bạn này yêu thầm hai cô nàng nên đã tự ghép cho mình cái tên là Đường Thu Lộc. Không biết có ai biết cho cuộc tình thầm lặng đó không?

Mình đã đọc bài của NVPA cũng lâu và lần đầu tiên bắt được liên lạc với PA, mình có nhắc đến ngôi trường Lycée Français Huế và mình mới nhớ lại vài vị giáo sư cũ nữa, đó là Mme Millot, rồi sau đó M. Leeman thay thế. Còn Mlle Bugnot, một cây “bourreau” về môn Français cho các cuộc thi oral rất nổi tiếng thời đó, mình có cậu em họ lớn tuổi đã bị chém oral Bac I mấy năm liên tiếp đó và đã hận bỏ học đi Marakech.

Trúc Huy ơi, bây giờ mình nhớ ra rồi, có phải Maman của TH là Cô Thuý làm Surveillante kiêm Secrétaire trong văn phòng (bureau) của Lycée không? Mình đang trên đường đi gặp Marcel Proust “À la recherche du temps perdu” đó!

Thú thật, khi nghe bạn bè nói Mẹ của TH làm việc ở Lycée Français Huế, mình chưa biết là ai, nhưng khi nghe nhắc đến tên Cô Thuý thì mình nhớ ra ngay Cô Thuý là Surveillante kiêm Secrétaire của Lycée. Hình ảnh Cô đã sống mãi trong tâm trí mình, lâu lắm rồi, nhưng vẫn không bao giờ mình quên được nét dịu dàng, đoan trang của một “từ mẫu”. Mình đã nghĩ như thế cho đến hôm nay vẫn còn y nguyên, không phai nhạt chút nào.

Cũng nhớ vào mùa thu năm xưa, lúc đó Cô khoát lên mình một chiếc áo dài thướt tha với chiếc khăn châle màu vàng, có khi màu tím hoa cà, vẫn luôn có nụ cười hiền hoà trên đôi môi và nhất là cái chignon thuần túy của người phụ nữ Việt Nam gương mẫu. Hình ảnh Cô Thuý và Thầy Dương cùng Cụ Chương vẫn còn sâu đậm trong tâm trí mình.

Mình nhớ lần bị consigne chiều Jeudi có Cô Thuý, Cụ Chương… Eo ơi! Nhớ thương vời vợi. Ở bên Providence thì có Cô Tuân, mẹ của Lê Đình Thương đó. Lại cũng hình ảnh các Bà Mẹ giữa đám nam sinh, những sự âu yếm của tình sư mẫu, ngàn đời mình không quên…

Mình có nhiều kỷ niệm với Lycée Français Huế lắm, không ngờ lại được gặp các tay cao thủ Huế thật là một niềm vui lớn để được học hỏi thêm. Mình có xem được những hình ảnh cũ của Thầy Cô mà TH gởi, quý thật! Người mang kính trắng là Thầy Tạ Đình Cung dạy Việt Văn và chỉ dạy có ba tháng sau cùng của niên học 5è (1955), và sau đó được bổ nhiệm về Quốc Học. Ông Dago là Directeur, bà đầm tóc ngắn, nếu mình không lầm là Mme Vacher dạy Français. Còn Mlle Bugnot, cô này còn trẻ và calée về grammaire, chỉ có 22 tuổi và sau này là copine của M. Moisset.

Xin cảm ơn TH, mình với PA cũng đã từng trao đổi tin tức… Trúc Huy có biết rằng mình đầy nghệ sĩ tính lắm đó, yêu nhạc, yêu văn thơ và cũng rất “yêu Hoa” nữa đó. Xót xa là có vương mùi tóc, tà áo bay về nhớ suốt đêm… Khó mà nói cho hết nỗi niềm! Mình đã nhìn lại cái ảnh cũ phai màu của TH gởi, mình sực nhớ đến Thầy Dương năm mình nạp đơn thi vào trường Lycée, lúc đó vào khoảng 16h50, vì danh sách thí sinh đã đánh máy xong mà mình nạp đơn thi concours d’entrée chỉ trước 10 phút thôi, thì Thầy Dương thấy mình bèn thương hại và đã đánh thêm tên mình vào danh sách vào lớp 4è. Ui chao ơi, mình mừng quá sức, thế là ngày mai mang bút đi thi.

À, Phạm Thế Lại như ai đó nói là nhà toán học nổi tiếng bây giờ, có chị là Phạm Thị Xuân Sanh, hai chị em học chung lớp. Xuân Sanh học xuất sắc lắm, là con của ông chủ tiệm “Au Bon Goût” ở bên phố Trần Hưng Đạo cánh trái của rond point Tràng Tiền, một restaurant nổi tiếng của Huế xưa, dành cho dân “noble” thời đó, nhất là các ông tây bà đầm. Chắc TH còn nhớ rõ chứ, sau này trở thành nhà sách Ưng Hạ, nơi này bán khá đủ các sách giáo khoa pha-lang-sa cho bọn học sinh anh em mình đó.

M. Decoux về năm 53 dạy Dessin và Géologie, ông này dễ thương và hiền lành, có lẽ mang sẵn tâm hồn nghệ sĩ, yêu học trò nữ hồn nhiên lắm, sau này lấy cô Lộc thì phải? Còn Thầy Văn Đình Hy cũng có nhiều cảm tình với cô nữ sinh Mộng Hoa, học cùng lớp với mình. Mà Mộng Hoa xinh đẹp, hiền và dễ thương, ai cũng có cảm tình cả.

À quên, Mlle De Gantes dạy Histoire & Géographie, mình chỉ có chút kỷ niệm với Cô này là hôm cuối năm đem vở lên xin Cô chữ ký với chữ “Bon courage” mà nhớ đời. Sau này vào thi BEPC vô oral lại gặp Cô với sujet La Seine. Sở dĩ nhớ lại vì trước đây mình có đi dự Conférence về Paris ở rạp Morin thì phải, được nghe Thuyết trình viên bắt đầu câu : “Paris, deux petits syllabes, connu du monde entier…” và thế là nhớ mãi mãi cho đến bây giờ. Kể TH nghe chơi để mà nhớ trường xưa ở Cố đô Huế.

Nhớ Thầy Tạ Đình Cung kể chuyện về Ông Tả Ao, và hay chi lạ, cái gì cũng cười… Vui thôi! Nhìn lại hình ảnh và trường cũ mà thấy nhớ nhớ thương thương và cứ ngỡ mới đâu đây, nhất là Thầy Dương, Cụ Chương và Cô Thuý là đầy đủ lắm rồi.

Quên nhắc đến Thầy Văn Đình Hy, năm đó vừa tốt nghiệp Cao Đẳng Sư Phạm ở Hà Nội về Huế, trong lúc chờ lệnh bổ nhiệm về Quốc Học, Thầy đã phụ trách các giờ Việt Văn lớp mình. Thầy còn trẻ, đẹp trai nhưng hơi chétif, và trong lớp cô Mộng Hoa rất xinh đẹp, trong giờ giảng dạy có ánh mắt trao đổi qua lại, mình tinh nghịch để ý và hình như có một chút gì thầm kín, nhẹ nhàng… thấy má hồng hây hây và thường nhìn vào trang sách, do đó sau này cả lớp cũng đã xôn xao.

Thầy còn trẻ mà khá đẹp trai, célibat nên khi vào dạy lớp mình chỉ có 3 nữ sinh thôi, đó là Paulette Poignard, chị Nhược Pháp (chị của PA), chị rất cao, đối với mình và lớn nên mình gọi bằng chị, và Mộng Hoa, một nhan sắc của lớp, cũng là người đã lọt vào mắt của Thầy Văn Đình Hy, mà bọn mình lúc đó ngày bãi trường có mạn đàm thân mật với Thầy và Thầy đã trả lời: “Bộ các em không muốn Thầy có hạnh phúc hay sao?

Paulette Poignard là cô bạn thân độc nhất của mình hồi đó. Hai đứa ở gần nhau và chung đường. Nhà cô ấy là Lò Rượu SICA, nằm ngay góc phải của cầu Phủ Cam. Paulette rất dễ thương, và hiền hậu nữa. Sau buổi học đầu, vì hai đứa ở cùng đường, nên ngày nào hai đứa cũng đi học chung và về chung. Có bạn cùng đi thì đường thấy ngắn hơn… ooOoo

Kể từ khi chia tay xa rời mái trường Lycée Français Huế thân yêu, bạn bè tung cánh khắp bốn phương trời… trưởng thành trong một đất nước chiến tranh, ly loạn rồi cuối cùng nước mất nhà tan, bạn bè chưa một lần gặp nhau… Thế rồi sau chuỗi thời gian dài đăng đẳng đó và tuổi đời chồng chất, tất cả chúng ta đã trên thất thập cổ lai hy thì lại bắt được nhịp cầu trao đổi trên xứ người qua mạng lưới internet, thật là tuyệt vời, tuyệt vời, phải không các Bạn?

Thân mến chào tạm biệt Trúc Huy và quý Bạn hiền. Oslo đang vào “tủ đá” (âm độ -20) nhưng có trăng lạnh, đẹp và buồn.

Fransis Vinh

Catégories
Prose

ĐÀ NẴNG

Tống văn Thụy(BP71)


Đi máy bay, với nụ cười và cái thẻ của Vietnamairlines, tôi thường xin cô nhân viên quầy vé sắp xếp chỗ ngồi nhìn ra cửa sổ. Trước khi hạ cánh phi trường Nội Bài, Hà Nội dưới mắt tôi, những cánh đồng mùa xuân mạ xanh mơn mởn, xa xa Sóc Sơn mây mù bay bay. Sài Gòn, đại đô thị mênh mông đến tận chân trời nhưng sắc màu đa dạng với những mái ngói, mái tôn, cao ốc san sát điểm xuyết có dòng sông uốn lượn. Huế là hình ảnh những cồn cát trắng xóa trên đó nhấp nhô những ngôi mộ trông như những chiếc nón lật ngược, cồn cát chạy ven biển và đầm phá với hai màu nổi bật xanh-trắng. Đà Nẵng hiện ra khi máy bay vòng từ phía nam lên để hạ cánh với toàn cảnh núi non màu lam-sông xanh-đồng lúa chín vàng, mái ngói đỏ và đại dương nghìn trùng xanh thẳm, trên đó vòng cung Trường Sơn phía Tây với bán đảo Sơn Chà vươn ra tận biển.

Tôi đến Đà Nẵng lần đầu tiên mùa hè năm 1965. Bấy giờ là đô thị thời chiến với nhiều binh chủng : thủy quân lục chiến Mỹ bên kia sông Hàn dọc bờ biển, lính Nam Hàn từ Hà Mi, Điện Ngọc quay về, biệt kích rằn ri miền Nam VN  từ căn cứ Thượng Đức, Quảng Nam xuống phố…

Thành phố có vùng nội thị với hướng đông là những con đường song song hay thẳng góc với sông Hàn. Thuở ấy, Đà Nẵng chỉ có cây cầu Trình Minh Thế bắt qua sông. Người dân, học trò đi phà sang sông. Sông không rộng lắm nên phà nhỏ qua nhanh, chưa hết điếu thuốc thì đã sang bờ, không đến nỗi miên man diệu vợi, qua sông lụy phà như Bắc Mỹ Thuận, Cần Thơ hay Vàm Cống. Bên kia sông là những làng chài, rừng dương, cồn cát chạy dài từ chân bán đảo Sơn Chà đến Cửa Đại, Hội An. Địa lý học gọi là tombolo. Một phần dải đất cát nầy là quận Ba, dân gian gọi đùa là q. Ba.

Hướng Bắc thị xã nhìn ra Vịnh Đà Nẵng hay còn gọi là Vũng Thùng, nay có công ty đang san lấp một phần để biến thành đô thị. Thành phố đất rộng mênh mông đặc biệt phía Tây và phía Nam, phía Bắc là vịnh biển xanh màu ngọc bích đẹp như thế, hà cớ gì phải quai đê lấn biển như thuở đồng chiêm Kim Sơn-Tiền Hải.

Vịnh Đà Nẵng và bán đảo Sơn Chà là nơi liên quân Pháp-Tây Ban Nha mở đầu việc đánh chiếm VN năm 1858. ’’Tai nghe súng nổ cái đùng/Tàu Tây đã đến Vũng Thùng hôm qua.’’. Sau mười tám tháng tiến thoái lưỡng nan giằng co với quân và dân Việt, lại bị thời tiết, dịch bệnh phong tỏa nên liên quân theo gió mùa Đông Bắc chuyển hướng vào Nam, đánh chiếm các tỉnh miền Đông/1862, miền Tây/1867…Ngày nay, di tích còn lại của trận chiến bi thương mà hào hùng ấy là một đoạn thành Điện Hải bằng gạch vồ bên hào sâu trong khuôn viên trường Blaise Pascal cũ, nằm chênh chếch sau lưng Tòa nhà Hành Chánh thành phố có hình từa tựa trái bắp. Dấu binh lửa còn lưu lại tại khu mộ tập thể/ossuaire của lính viễn chinh Pháp-Tây Ban Nha dưới chân bán đảo Sơn Chà. Người Đà Nẵng cố cựu gọi là nghĩa trang Y Pha Nho. Về phía Việt Nam, sau nhiều lần di dời, nơi quy tập hài cốt những chiến sĩ trận vong thuở ấy, nay là Nghĩa Trũng Khuê Trung ở Hòa Vang.

Vịnh Đà Nẵng có bãi biển Nam Ô là nơi thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ ngày 8/3/1965, hết ngày chọn hay sao mà lấy ngày Phụ Nữ để…đổ bộ, lần biểu dương nầy đánh dấu sự can thiệp trực tiếp của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ vào cuộc chiến Việt Nam. Bây giờ là khu du lịch Xuân Thiều, có nhà hàng nhìn ra biển mang tên Red Beach Two vốn là mật hiệu/nickname của bãi cát lịch sử Nam Ô. Tương truyền Red Beach One là mật hiệu bãi đổ bộ Normandy Ngày dài nhất/The Longest Day/6/6/1944. Nam Ô có hai thế mạnh : cá mắm và sản xuất pháo như Bình Đà ngoài Bắc. Pháo nay đã xa rồi, làng nghề năm xưa đang gắng gượng sống còn với nghề đi biển và chế biến hải sản.

Trước năm 1975, nghĩa trang lớn nhất thành phố Đà Nẵng là Nam Ô, nay người chết cũng phải ra đi, nhường chỗ cho những khu công nghiệp. Vùng cát trắng Nam Ô có con sông Cu Đê nổi tiếng, thượng nguồn từ Trường Sơn chảy ra Vũng Thùng, nước trắng xóa dưới chân cầu Nam Ô. Thuở nội chiến Trịnh-Nguyễn-Tây Sơn, vùng sông Cu Đê phía Nam Hải Vân là chiến trường ác liệt. Chính tại đây, Đông cung Nguyễn Phúc Dương bị Nguyễn Nhạc bắt đưa về Hội An làm bình phong cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Từ sông Cu Đê theo đường thượng đạo là địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc Cơ Tu, đi vòng phía sau Bạch Mã …

Trước năm 1975, miền thùy dương cát trắng nầy là quận Nhì tương đương với hai quận Liên Chiểu, Thanh Khê ngày nay, là vùng đất mở ra từ nam Hải Vân với những khu công kỹ nghệ nối tiếp. Thành phố, các khu dân cư phình ra phía Tây Nam chập chùng đồi núi, vùng khai thác mỏ đá, nghĩa địa…Trước đại dịch Covid-19 lần 2 vài hôm, đi viếng người bạn qua đời. Nhà anh nằm sâu sau lưng bến xe Đà Nẵng, nhìn ra vùng đất mới, hỏi thăm người con trai… Cháu trả lời, cách đây vài năm, đây còn là vùng khai thác đá xây dựng.

Bạn tôi, nhà thơ Nguyễn Văn Gia, già làng Thanh Khê…thảo lư, cảm khái:’’Quê tôi/giờ lạ hoắc/Người xứ khác/ở quanh/Họ sắm nhà/mua đất/Như mua…quả ớt xanh.Tôi quanh quẩn/quê mình/Cho đến khi tóc bạc/Nghe giọng lạ/ thất kinh/Cứ ngỡ/mình đi lạc. (Nắng gió quê nhà)

Phía nam nội thị là quận Cẩm Lệ, nối tiếp huyện Hòa Vang với những địa danh nổi tiếng như Trung Lương, Cồn Dầu…nay là khu đô thị mới Hòa Xuân, tiếp giáp tỉnh Quảng Nam.

Hướng đông, từ bán đảo Sơn Chà xuôi Non Nước-Ngũ Hành Sơn đến Hội An qua hai con đường: đường ven biển mới mở rộng cách đây khoảng 20 năm nay, dân lái xe du lịch chuyên nghiệp gọi là đường APEC, để phục vụ cho Hội Nghị Châu Á Thái Bình Dương năm 2017 và đường tỉnh lộ truyền thống. Theo chân nhà văn Võ Phiến từ Đà Nẵng vào Hội An cách đây hơn nửa thế kỷ qua :’’Con đường từ Đà Nẵng đi Hội An, vừa ra khỏi thành phố một cái là phủ rợp bóng tre. Tre hai bên đường xanh tốt giao đầu lại với nhau làm thành một vòng cung, một cái hầm xanh rập rờn linh động mát rượi che kín mặt đường…Bởi vậy, đoạn đường từ Đà Nẵng về Hội An sẽ làm người ta quên hết những tên Tây kỳ cục của nó (như Tourane, Faifo, chú thích củangười viết), mà chỉ gợi nhớ đến cu gáy với bướm vàng trong ca dao, đến ‘’con đường thơm’’… Võ Phiến. Hội An. Tùy Bút. Văn Nghệ. 1993.

Những ngày giáp Tết trước đây, con đường thơm của Võ Phiến rợp sắc vàng hoàng mai như đường Phấn thông vàng từ con sông đào An Cựu lên Đàn Nam Giao ở Huế hay những con đường nhỏ dọc bờ kênh miền Nam, nhất là ở Cái Bè, Vĩnh Long… Mai vàng ngẩn ngơ từ đầu kênh đến cuối ngõ.

Bây giờ đường xưa lối cũ có sáu làn xe chạy miên man mà nắng chang chang. Thỉnh thoảng, tôi đi xe buýt màu vàng từ Hội An về Đà Nẵng qua con đường nầy.

Như bao thành phố trên đất nước nầy, Đà Nẵng không thoát vòng tục lụy biến dịch quay cuồng: đất đai-đầu cơ-giải tỏa-xây dựng từ khoảng 25 năm trở lại đây, thậm chí còn là trường hợp điển hình, tiêu biểu. Chu kì nầy có phần khựng lại gần đây vì đại dịch. Truyền thông chính thống khẳng định 2 nguồn thu chính yếu của các địa phương trên cả nước là đất đai và xổ số. Đất đai thì kẻ giàu và quyền lực ngày càng giàu thêm, đất đai có giới hạn, chính quyền gọi là quỹ đất, bán hoài cũng hết; xổ số thì anh nghèo càng lúc càng thua thêm, chỉ còn lại… giấc mơ.

Ngược dòng lịch sử, 12 năm sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, năm 1570, Trịnh Kiểm giao thêm cho ông việc cai quản đất Quảng Nam với số thuế phải nộp hàng năm là 400 lạng bạc và 500 súc tơ lụa. (Lê Thành Khôi. Histoire du Viet Nam, des origines à 1858. p.255. Sudestasie. Paris.1992). Từ đó, Chúa ở Phú Xuân, thế tử ở xứ Quảng. Nguyễn Hoàng củng cố Đàng Trong nhưng tâm tư vẫn hướng về Thăng Long văn vật. Phải mất 30 năm sau khi giấc mộng mưu bá đồ vương bất thành trên đất Thăng Long, lại chịu hết nỗi bọn nho sĩ Bắc Hà lý luận, Nguyễn Hoàng mượn cớ đi dẹp giặc chống họ Trịnh ở cửa Đại An/Nam Định rồi theo đường biển về Thuận Hóa. Giã từ vĩnh viễn châu thổ sông Hồng, Nguyễn Hoàng tích trữ và củng cố quân lương, vượt Hải Vân, hướng về phương Nam. Đà Nẵng, trong vòng tay Quảng Nam và Đàng Trong, trở thành vị trí tiền tiêu nhìn xuyên suốt phía Nam đến tận vịnh Thái Lan.

Là một phần của Quảng Nam. Đà Nẵng lâm đại dịch thì Quảng Nam…cách ly. Nhà văn Phan Xuân Sinh nhận xét chí lí :’’Chớ dại mà đụng chạm anh Đà Nẵng trước mặt ông Quảng Nam, cãi cho tới cùng.’’

Theo dòng, khi cửa sông Thu Bồn bị cát bồi lấp, từ đó Đại Chiêm cửa khẩu nhường vị trí thương cảng cho Đà Nẵng. Thành phố là miền đất tụ hội, khai phóng, là đất mở, vươn lên miền thượng du Tí, Sé, Dùi Chiêng… hướng về đại dương gió muôn phương lồng lộng. Theo gió mùa, thương thuyền  ghé bến buôn bán, trao đổi sản vật. Giáo sĩ đến truyền đạo. Chữ quốc ngữ ra đời. Tương truyền, cố đạo dòng tên người Bồ Đào Nha Francisco de Pina, ông thầy tiếng Việt của linh mục Đắc Lộ Alexandre de Rhodes,Francisco de Pina chết đuối ở vịnh Đà Nẵng khi cố cứu khách thương trên một con tàu đắm ở vịnh. Cuối thế kỷ thứ 17, Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng tương tự Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, hai thế kỷ sau khi người Pháp đặt nền đô hộ trên toàn cõi Việt Nam.

Đà Nẵng là thành phố nhượng địa/concession française như Hải Phòng thời Pháp Thuộc, đô thị thời chiến trong chiến tranh Việt Nam, thị xã buồn hiu sau 1975. Thời buổi ấy, đất tụ bỗng thành đất tán. Ai cũng muốn bỏ xứ mà đi, vào Sài Gòn, lên cao nguyên, vượt biên. Khi đất nước mở cửa, thành phố bên sông Hàn mới tỉnh giấc chiêm bao. Đà Nẵng như một công trường xây dựng hoạt động ngày đêm. Có lúc Đà Nẵng mơ thành Tân Gia Ba/Singapour. Và ai đó muốn biến thành…Lý Quang Diệu. Ôi! Mảnh đất lắm người nhiều ma, tựa đề một cuốn tiểu thuyết thời văn chương cởi trói, là để dễ hình dung thành phố cảng trong cuồng phong đổi thay. Chỉ một nhúm  quan chức-thân thuộc thủ lợi từ những cơ hội ấy. Người dân vẫn không khấm khá gì hơn dù ngôn ngữ hiệu triệu nghe ra có phần đường mật. Giới trung lưu thì đi chỗ khác chơi hay co lại như miếng da lừa.

Trong thế sự đổi thay, người Đà Nẵng đi xa đã lâu, ký ức có lẽ chỉ quanh quẩn nơi vùng trung tâm, giới hạn phía tây là Ngã Ba Huế, phía bắc vịnh Đà Nẵng với Nam Ô và biển Thanh Bình, phía nam quá Chợ Mới, quanh co thêm một chút đến trường trung học Hòa Vang, nhà máy dệt Sicovina hoạt động từ 1962, nay mang tên Hòa Thọ, đi thêm chừng 1km dừng lại QL1, nhìn sang bên kia dốc Hòa Cầm, đi Hòa Vang, Đại Lộc, phía đông là Sơn Chà-Mỹ Khê-Non Nước.

Từ ngày 27/7, Đà Nẵng giãn cách xã hội lần 2, người dân chỉ ra đường khi cần thiết (!), smartphone cài đặt Bluezone để dễ truy tìm dịch bệnh, chính quyền phát phiếu cho dân đi chợ theo ngày, người lớn tuổi/senior được khuyến cáo ở nhà cho nó lành…Buồn quá, rồi cũng chạy xe máy thăm bạn già, loanh quanh phố phường đô thị thời dịch bệnh.

Con đường đẹp nhất thuở ấy và bây giờ có lẽ là đường Bạch Đằng song song sông Hàn. Trên đất nước thân yêu nầy, những con đường dọc bờ sông đều đẹp và tình, nhất là những con đường hai bên bờ sông Hương. Tòa Thị Chính Đà Nẵng trước đây màu vôi vàng nhạt, kiến trúc Art-déco, có cây cầu nhỏ đưa ra sông một đoạn. Ngày tết hoa lá quanh đây, bà con tha hồ ra chụp ảnh selfie, tiếng Việt diễn nghĩa là…tự sướng ! Khi Đà Nẵng có Trung Tâm Hành Chánh mới thì tòa nhà này ngủ đông. Nghe nói, đang có kế hoạch đánh thức cả hai tòa nhà vốn rất đẹp, kể cả kiến trúc bên cạnh để biến thành bảo tàng.

Cạnh đó, ngày trước là Trung Tâm Văn Hóa Pháp/C.C.F . Những bậc cấp dưới bóng cây nay đưa lên Thư Viện Tổng Hợp thành phố. Hoàng tử bé lui vào hậu trường, nhường mặt tiền cho Thép đã tôi thế đấy. Đề huề. Không gian bên ngoài thư viện có quán cà phê ngoài trời trên những bậc thềm cao cao nhìn ra dòng sông, trông rất tình và lãng mạn. Sách, cà phê, bóng cây xõa tóc bên bóng ai và dòng sông lững lờ. ‘’Dường như đứa trẻ nghìn năm trước/Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta.’’Nguyễn Bắc Sơn. 

Đi thêm một đoạn, nhìn ra sông là nhà hàng Memory khai trương cách đây khoảng mươi năm. Ký ức chẳng gợi cho tôi một sợi sắc không nào. Chỉ nhớ bến phà ngày đó, những lần dắt xe đạp lên phà qua sông đèo vợ con đi tắm biển Mỹ Khê.

Trên đoạn đường nầy vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà, biệt thự đẹp, thường là kiến trúc thuộc địa. Gần giao lộ Bạch Đằng-Phan Đình Phùng là một kiến trúc đẹp nhìn ra sông, cây xanh, bãi cỏ chung quanh nhưng quanh năm cửa khóa then cài. Trước 1975 là trụ sở ngân hàng, nay hình như là cơ quan công quyền.

Bên kia đường Phan Đình Phùng, chiếm đến bốn mặt tiền là một khu vực biệt lập, ngày trước, hướng đường Độc Lập/Trần Phú là nhà bạn tôi, BQ. Phía sau, nhìn ra đường Bạch Đằng, gia đình anh cho Mỹ thuê sửa sang thành Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Đà Nẵng, gọi là Bạch Tượng. Ngày tháng sau 1975, Lãnh Sự quán biến thành Tòa nhà Tội Ác Đế Quốc Mỹ với kẽm gai, bao cát…đi ngang thấy ghê ghê. Bây giờ là khu trung tâm thương mãi và condo đắt nhất Đà Nẵng. Bạn tôi, BQ, lưu lạc Hoa Kỳ, tốt nghiệp Đại Học Berkeley, nay giã từ cõi mộng điêu linh về ẩn cư Phú Lộc, chiều chiều ra bãi biển Nam Ô nhìn trời mây non nước. Anh người dưng mà xuất xử hơn cả thiền sư. Xin ngả mũ.

Tôi đang đi phía sau chợ Hàn, hướng nhìn ra dòng sông. Khách du lịch Hàn và Hoa rất mê chợ Hàn. Trước dịch Covid-19, có  người nói hơn 80% giao dịch thương mãi tại đây thực hiện với khách du lịch, khiến người địa phương né chợ vì giá cao. Như chợ Bến Thành, Sài Gòn mùa vắng những cơn mưa. Đoạn đường nầy về đêm nhộn nhịp vui vẻ với những quán nước dừa ngồi chen vai thích cánh, bar  cho Tây ba lô, hoạt cảnh như mấy quán trà chanh san sát của giới trẻ Hà Nội bên góc sân Nhà Thờ Thánh Giuse.

Cuối đường là Cầu Rồng, đầu rồng nhìn ra biển Đông, đuôi hướng về Trường Sơn. Người Đà Nẵng tự hào về con rồng vàng vươn mình trên dòng sông, cuối tuần khạc lửa mấy phát cho vui, khói lửa mù trời. Riêng tôi thấy cây cầu dây văng nằm song song phía Nam thay thế cầu sắt lần lượt mang tên De Lattre de Tassigny, Trình Minh Thế, Trần Thị Lý đẹp hơn, trông như cánh buồm căng gió. Buổi sáng, dưới chân Cầu Rồng, từ Bảo Tàng Chăm nhìn ra bờ sông là quang cảnh rất lành mạnh quý cô tập thể dục buổi sáng, có âm nhạc phụ họa.

Năm 2015, Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm mừng 100 năm thành lập (1915-2015). Nguyên đây là công viên Tourane, tên cũ thành phố nhượng địa Đà Nẵng. Từ những cuộc khai quật khảo cổ của trường Viễn Đông Bác Cổ khắp miền Trung, tượng điêu khắc, bi kí, phù điêu trang trí…Chăm tập trung về đây nhiều quá khiến Trường Viễn Đông Bác Cổ/EFEO, Khâm sứ Trung Kỳ, Hội Đồng Hành Chánh Quảng Nam-Tourane và đặc biệt kiến trúc sư-nhà khảo cổ Henry Parmentier vận động xây dựng một bảo tàng dành cho điêu khắc Chăm trên giồng đất nhìn ra sông Hàn. Bảo tàng đầy đủ và bài bản nhất về nghệ thuật của một vương quốc mà cương vực địa lý kéo dài từ sông Gianh đến tận Phan Rang thêm một phần Cao nguyên Nam Trung Phần. Qua bao dâu biển, Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm có lẽ vẫn là kiến trúc đẹp và hài hòa nhất với cảnh quan thành phố bên sông. Người dân Đà Nẵng trước đây thường gọi Cổ Viện Chàm, hay Viện Cổ Chàm. Bây giờ, mấy ai còn nhớ, trừ mấy anh phụ xe buýt màu vàng, chuyến Hội An-Đà Nẵng và ngược lại. Đi xe buýt từ Hội An ra Đà Nẵng, đến gần cuối đường Tiểu La, anh phụ xe sẽ nhắc nhở : bà con cô bác, ai xuống Viện Cổ Chàm. Chuẩn bị. Viện Cổ Chàm, ba chữ ngắn ngủi mà bồng bềnh một trời thương nhớ Đà Nẵng-Tourane-Ia Praung/tên nguyên thủy Chăm của Đà Nẵng có nghĩa là sông lớn (Lê Trung Hoa. Địa danh học Việt Nam. NXB. KHXH. 2006).

Từ Viện Cổ Chàm, nhìn sang bên kia đường Trưng Nữ Vương là ngân hàng Shinhan, HSBC, khách sạn. Nguyên trước đây là trường Trung học Sao Mai, trường mất tên từ 1975, về sau đổi thành trường Trần Phú. Ông tổng bí thư đầu tiên của ĐCSĐD rồi cũng ra đi nhường chỗ cho ông ngân hàng, khách sạn thời buổi kim tiền. Xóa sổ trường học để biến thành nơi kinh doanh là dấu hiệu suy vong của đất nước.

Từ Viện Cổ Chàm, theo đường Trưng Nữ Vương lên Chợ Mới. Dọc đường đi ngang trường Thọ Nhơn dành cho con em người Hoa trước đây, nay là trường cấp 2 Trần Hưng Đạo. Bạn tôi, HLT là phó ban điều hành trường sau 1975. Anh chẳng tranh đấu nằm vùng cũng không cách mạng, đơn giản chỉ là người Hoa như nhà thơ Hồ Dzếnh, anh tốt nghiệp Đại học Sư Phạm ban Pháp văn. Giáng Sinh đầu tiên sau ngày đất nước sang trang, anh và tôi tháp tùng hai nhan sắc lang thang Đà Nẵng đêm Bình an cho người dưới thế. Ngang trường cũ, nhớ bạn hiền phương xa.

Tôi nhớ Chợ Mới hay chợ Hòa Thuận ngày trước có nhà may Cao rất nổi tiếng. Bao nhiêu năm rồi không ghé hiệu may kể từ ngày đến anh M. Thông gần chợ Hàn may bộ costume nhân đám cưới con trai. Anh Mai Cồ vừa lấy số đo vừa giảng cho tôi về chính nhân quân tử trong thời đại ngày nay. Anh là một khuôn mặt rất điển hình nơi thành phố bên sông Hàn. RIP anh M.Thông.

Ở xứ tôi, thợ may giảng về đạo làm người. Thế gian ai cũng là bác sĩ và dược sĩ. Đi khám bệnh, phòng mạch tư cũng như bệnh viện công, bác sĩ rất kiệm lời, ghi toa cực nhanh và chữ nghĩa mê hồn trận, nhiều vị… tịnh khẩu luôn nhưng bà con cô bác thì bình luận về bệnh tật rôm rả, không chê vào đâu được. Đi họp mặt bạn bè, kị giỗ, khúc dạo đầu thường xoay quanh chủ đề bệnh tật, nhiều khi cứ tưởng như dự… hội thảo y học. Cho nên, tôi vừa sợ đi bệnh viện như bất cứ ai trên cõi đời nầy, nhất là mùa dịch bệnh vì có thể sẽ bị cách ly luôn, mà cũng sợ họp mặt senior. Tôi thích lang thang cà phê hơn.

Từ đô thị thời chiến sang thời đại dịch, giãn cách xã hội rồi cũng sẽ qua đi. Tôi lại lạc quan đi tắm biển Mỹ Khê, đi cà phê. Trước 1975, ghé Cà phê Star, Lộng Ngọc…góc đường Độc Lập, Phan Đình Phùng, ngồi uống cà phê nghe Trả lại em yêu…,túi tiền sinh viên thời đó và cả bây giờ hơi hẻo dù quán đẹp, caissière xinh, cà phê ngon, nhạc hay, không khí có vẻ snob, tôi thích cà phê lề đường hơn như cà phê Thanh Hương ở đường Độc Lập, cà phê Thông Tin nhìn bâng quơ ra chợ Vườn Hoa. Chợ Vườn Hoa là một dãy kiosques bán hàng hóa linh tinh hướng ra công viên, cánh phụ nữ thường đến mua sắm, hoạt cảnh buổi sáng chủ nhật vui mắt nhộn nhịp sinh động như bản nhạc Beautiful Sunday thịnh hành bấy giờ. Rất tiếc, những người buôn bán nhỏ hết đất sống, nhường chỗ cho những tập đoàn, những ông trùm. Khuôn viên chợ Vườn Hoa bây giờ là một công trường xây dựng dở dang, kéo dài mươi năm nay.

Tuy không phải là vùng đất trồng cà phê, từ thuở còn đi học rồi lang thang qua bao bến bờ, tôi nghiệm thấy, có lẽ hơi chủ quan nhưng không có tính cách sô vanh, địa phương, cà phê Đà Nẵng ngon, vừa túi tiền, không khí quán xá, phục vụ dễ thương. Một tách espresso hay cà phê đen VN đậm vị, gu robusta, đĩa sứ lót bên dưới kèm một stick brown sugar, giá phổ biến từ 12.000 đến 15.000 đồng. Ở Hội An, 40.000. Sài Gòn, chuỗi cà phê Phúc Long là 25.000, Hà Nội, Sapa giá gấp đôi Phúc Long, Starbucks là 100.000. Chất lượng gần như tương đương, dĩ nhiên Starbucks ngon hơn. Chất lượng song hành giá cả mà Tây gọi là rapport qualité-prix. Cho đến bây giờ, tôi chưa dám phiêu lưu vào các chuỗi cà phê Cộng hay Út Tịch đã thấy xuất hiện đây đó ở Đà Nẵng, sợ không còn cái lai quần để về nhà. Cà phê tại những quán rất thời thượng mà giá đắt như Trúc Lâm Viên, Madame Lân (!) thì xoàng. Có lẽ, chủ nhân đầu tư cảnh quan, cây xanh, bàn ghế, món ăn hơn là cà phê. Việt Kiều về Đà Nẵng muốn mời bạn bè cà phê, ăn sáng thường được giới thiệu hai địa chỉ nầy.

Bạn vào một quán cà phê Đà Nẵng, nếu gọi cà phê đá, nhân viên sẽ hỏi : Thưa, cà phê đá Đà Nẵng hay Sài Gòn? Câu hỏi nầy chỉ xuất hiện quanh quẩn sông Hàn, vượt Hải Vân ra Huế hay vào đến Điện Bàn thì hết phim, sự khác biệt của hai ly cà phê là ít đá và nhiều đá. Anh Ba Sài Gòn thì thích nhiều đá. Chắc vì nóng quá và thường xuyên kẹt xe!

Từ vịnh Đà Nẵng, vòng qua bùng binh, bây giờ gọi là vòng xuyến (?), theo đường Độc Lập/Trần Phú đến trung tâm thành phố. Đường Độc Lập là một con đường đẹp, nhiều bóng cây. Đi ngang trường xưa đã khép  Blaise Pascal nay là Tòa nhà Hành Chánh Đà Nẵng, Trung tâm IT, bãi đổ xe…Nếu sau 1975, bên thắng cuộc chịu khó sửa sang cơ ngơi trường Blaise Pascal biến thành khu đại học thì không gian nầy sẽ đẹp và lãng mạn biết bao. Ngày xưa, trường Blaise Pascal như một khu rừng, trường học trong rừng cây, cỏ cây chen đá lá chen hoa, có thành quách, hào sâu, cầu hẹn hò dưới bóng đa cổ thụ, lối mòn dẫn vào lớp học, phòng thí nghiệm, bậc thang đá đưa lên nhà nguyện, bước xuống sân tập thể dục. Dĩ vãng từng trang từng trang xanh xao theo năm tháng.

Đường Độc Lập rất đẹp với những bờ đá xanh bên trong vệ đường. Ngày trước, từ cổng trường BP đi lên rạp ciné Kinh Đô, con đường thẳng tắp mở ra trước mắt. Vài năm trở lại đây, sở giao thông vận tải thiết kế một cầu chui cắt ngang con đường. Cầu chui chẳng giải quyết bao nhiêu nạn kẹt xe, chỉ phá vỡ sự thông thoáng vốn có của con đường và quy luật phối cảnh chung. Đi cầu chui lại nhớ Hàn Tín luồn trôn.

Ngày trước, trên đường Độc Lập, đối diện doanh trại quân đội là văn phòng Air VietNam, cạnh đó có rạp chiếu bóng Kinh Đô. Nhan sắc NKDP, bạn học cùng lớp ở trường BP là con gái ông chủ rạp. Tôi nhớ nhất quang cảnh ở đây một chiều thu năm 1974. HLT và tôi mua vé xuất chiều xem phim ‘’Điều tra về một công dân ngoài vòng cương tỏa’’/Enquête sur un citoyen au-dessus de tous les soupçons. Phim Ý. Thể loại hình sự không có cảnh đánh đấm, bắn súng, đối thoại hơi nhiều, tình tiết rối rắm, không khí ngột ngạt. Phim chiếu xong. Đèn bật sáng, khách lục tục ra về. Ngoài kia, trước văn phòng Air VietNam, rất đông người bàng hoàng, khóc lóc tìm đến văn phòng hỏi thăm tin tức chuyến bay 706 bị không tặc trên vòm trời Phan Rang. Chiều thu buồn hoang hoác.

Bây giờ, đi ngang đoạn đường nầy, mấy ai còn nhớ đến một thời vang bóng Kinh Đô. Trong ánh hồi quang năm xưa, còn đọng lại một bóng hình, đôi mắt và những cuốn phim một thời… 

Trên đường Độc Lập có hai kiến trúc tôn giáo quan trọng : chùa Long Thơ ẩn mình nơi khu dân cư và nhà thờ Đà Nẵng trong một khuôn viên đẹp. Trước đây, tháp chuông nhà thờ Đà Nẵng cao nhất vùng nội thị, nhớ tiếng chuông nhà thờ rơi từng giọt, từng giọt đêm Giáng Sinh hay Phục Sinh những năm tháng cô liêu. Trước mùa dịch bệnh, nhà thờ Đà Nẵng và thánh thất Cao Đài là những điểm thăm viếng tấp nập của du khách Hàn. Làm tour giá rẻ hay tour 0 đồng (?) cho khách Hàn và Hoa, cứ ghi chương trình thăm viếng chùa chiền, nhà thờ là ổn nhất,  khỏi phải mua vé tham quan, lại được đi restroom miễn phí. Quý du khách hoan hỉ !

Chợ Hàn nằm giữa chùa và nhà thờ  trên đoạn thẳng chừng cây số. Tuy người Đà Nẵng-Quảng Nam nổi tiếng cãi nhau đến cùng, hơi cố chấp trên nhiều vấn đề, nhìn chung, họ bao dung, thẳng thắn, dễ gần gũi, thật lòng, thân thiện, không xảo ngôn. Tôi có những người bạn QN-ĐN rất tốt. Từ trường học ra trường đời, hơn nửa thế kỷ sống  Đà Nẵng, dù có lúc chia xa vài tháng, mấy năm đại học, đi đây đi đó, thấp thoáng thấy biển Thanh Bình, sông Hàn hay xuôi xe đò từ Nam Ô, lòng đã rộn rã… về nhà. Đà Nẵng chân chất dễ mến như khuôn mặt mộc người thiếu nữ có đôi mắt mở to nhìn thẳng vào hồn ai.

Hôm qua, ghé thăm ông bạn Đà Nẵng đã hơn 85 năm gắn bó bến nước Vu Gia và Hàn giang. Hỏi những điều được và chưa được về thành phố. Anh trả lời, bộc trực kiểu Quảng Nam : Đà Nẵng nhà cao cửa rộng bây giờ san sát, vươn ra đến tận bờ sông, bãi biển, nhưng thành phố thiếu một không khí và sinh hoạt văn hóa ngang tầm. Triển lãm tranh, tượng thường mang tính phong trào, sự kiện. Đi một vòng Bảo Tàng Mỹ Thuật Đà Nẵng thấy nghèo nàn và đơn điệu so với Hà Nội và Sài Gòn. Viện Cổ Chàm hấp dẫn nhưng vắng khách Việt. Nhà trưng bày Hoàng Sa có tác dụng giáo dục mà đìu hiu… Đà Nẵng tuy vậy mà dễ sống. Khẩu hiệu‘’Thành phố đáng sống’’ thì chữ nghĩa hoa hòe, đại ngôn, không phải tâm tình người Đà Nẵng.

Đà Nẵng được quy hoạch, chỉnh trang đô thị hơn 25 năm trở lại đây. Thành phố không bị…vướng vào những di tích lịch sử như Huế ; thiên nhiên Đà Nẵng với hướng địa thế : biển cả, vịnh, núi non-bán đảo và dòng sông thuận lợi cho quy hoạch, vậy mà cảnh quan thành phố không đẹp như mong ước. Để xây dựng, phát triển một thành phố tân tiến mà vẫn bảo tồn ký ức và bản sắc, thể chế toàn trị, tiền bạc… chưa đủ, cần có tầm nhìn rộng mở trong một bối cảnh minh bạch. Điều nầy quá khó đối với Đà Nẵng và cả nước. 

Sáng nay, 9/9/2020, giãn cách xã hội có phần nhẹ nhàng hơn. Tôi gửi xe gần biển, đi bộ một vòng trên bãi cát, nhưng không được tắm. Biển thời cách ly sạch, chỉ thấy những dấu chân trên cát khiến tôi nhớ khí vị một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Đức Sơn đọc cách đây đã lâu. Dọc bờ kè, rau muống biển hoa màu tím qua mùa dịch đã phủ kín những bậc cấp. Sóng vỗ chập chùng nhớ những năm tháng đã xa, biển cũng hoang vắng như bây giờ. Biển nhớ.

Như nhiều thành phố trên cả nước, con đường học trò quen thuộc nhất Đà Nẵng là đường Phan Chu Trinh đi ngang trường trung học cùng tên, trường Nam Tiểu Học và bên hông trường Nữ Trung Học Hồng Đức trước đây. Trường Nam Tiểu Học được xây mới thành cơ sở 2 của trường PCT, trông như một chung cư hay trụ sở ủy ban…hơn là trường học. Giữa hai ngôi trường có lối đi dưới lòng đất nối kết.

Trường PCT cũ mới được sửa sang gần đây. Cổng cũ ngày xưa vẫn còn, tượng bán thân cụ Phan Chu Trinh rất đẹp do điêu khắc gia, thầy giáo Đỗ Toàn thực hiện, tượng bán thân lặng lẽ trước những gốc cổ thụ tỏa bóng sân trường, những hệ thống ô lam che nắng thiết kế trang nhã. Tuy bị mất một phần diện tích nhường chỗ cho đường Nguyễn Hoàng/Hải Phòng nối ra Nguyễn Tri Phương/Nguyễn Chí Thanh, trường PCT vẫn còn đẹp.

Bạn tôi, NVT, thầy giáo toán, tốt nghiệp thủ khoa toán ĐHSP Huế năm 1973, đi Pháp tu nghiệp một năm, về lại trường PCT, nhiệm sở cũ trước tháng 3/1975, tiếp tục dạy học sau đó. Một sáng đẹp trời, ông hiệu trưởng nhìn anh mang giày tây, áo quần tươm tất lên lớp, liền phán: ‘’Anh Th. khi nào cũng đi giày nghiêm túc nhỉ !’’Trả lời :’’Thưa ông ! Tôi chỉ còn lại đôi giày để đi tạm. Chẳng lẽ tháo giày mang dép lốp. Vậy ai đó đi xe hơi thì đã sao?’’NVT đã qua đời trong một tai nạn xe máy trên đường Đà Nẵng-Hội An. RIP Th.

Từ đường Phan Chu Trinh, đi tiếp lên Ngã Năm, trước mắt là hai khách sạn nổi tiếng trước đây, Phương Đông/Orient và Thái Bình Dương/Pacific, nay bóng ngả về Tây nhìn buồn hiu như cửa hàng thời bao cấp với tem phiếu một thời.

Một trong những con đường chạy theo hướng bắc-nam đặc trưng Đà Nẵng, ít thay đổi qua bao năm tháng, là đường Ông Ích Khiêm từ biển Thanh Bình đến chùa Tỉnh Hội, con đường giao thương buôn bán từ bao đời qua các chợ Thanh Bình, Tam Giác nay không còn nữa và đặc biệt chợ Cồn; ngày trước gần đó có bến xe liên tỉnh. Sau năm 1975, đường ngang ngõ tắt chung quanh chợ Cồn, những quán cà phê cóc, những chiếc dù bạt che nắng mưa dọc đường hay di động là thủ phủ dân chợ trời thuốc tây, đồng hồ…Tôi bươn bả góc chợ trời ấy gần 15 năm, cũng bằng đoạn đường lưu lạc của nàng Kiều. Cả một thời mộng mị bỗng hiển hiện quay về. Cám ơn đời, cám ơn chợ trời và những mảnh ghép đầy sắc màu những năm tháng chẳng thể nào quên.

Đà Nẵng có những con đường ngang vươn từ bờ sông sang hướng Tây như đường Quang Trung,  Thống Nhất, Hùng Vương… Nhớ nhất là đường Thống Nhất, tên mới LD, chạy từ cầu quay sông Hàn ra hướng Ngã Ba Huế. Con đường cây cao bóng cả với hàng cây xà cừ, gạo, phượng vĩ…giờ trống hoắc, hàng loạt cây xanh bị đốn bỏ để mở rộng đường sá cách đây chừng 25 năm. Con đường đi ngang trường Nữ Trung Học Hồng Đức Đà Nẵng một thời nhung nhớ. Quá trường Nữ là dốc Cầu Vồng mà tôi thường đèo con thả dốc rồi hì hục leo lên những năm ’80 hiu hắt của thế kỷ trước. Cầu Vồng được hạ giải và rơi vào quên lãng sau đó.

Ghé bến sông Hàn, đi lại những đường xưa lối cũ mà không sang sông là không phải người Đà Nẵng. Bên kia sông là ánh mặt trời. Này người yêu, người yêu anh ơi. Bên kia sông đường vẫn còn dài. Nhạc Nguyễn Đức Quang phổ thơ Nguyễn Ngọc Thạch. Như đã trình bày, bên kia sông là q. Ba trước đây. Bạn tôi ở Montréal, bỏ Đà Nẵng mà đi biền biệt từ đó, gần đây điện thoại hỏi thăm, nhờ tìm homestay sát biển, phải là biển Mỹ Khê. Với người Đà Nẵng xa xứ, biển Đà Nẵng chỉ có thể là Mỹ Khê. Có lẽ, địa danh nầy quá quen thuộc, bãi biển không xa thành phố, qua phà là đến, không phải thuyền bè cách trở như bãi cát Tiên Sa dưới chân Sơn Chà. Bà con ngư dân lớn tuổi còn giải thích thêm: thời Pháp thuộc, Tây chọn Mỹ Khê làm bãi tắm vì độ sâu thoai thoải, con nước hiền. Dù vậy, đi tắm biển, cần lưu ý điểm giao thời giữa hai mùa, tương ứng với các tháng 3, 4 và 10, 11 hàng năm, thường có hiện tượng sóng lừng/rip current hay lame de fond cuốn bạn ra xa, không thể bơi vào bờ. Mẹo nhỏ cho người biết bơi: đừng hoảng sợ, đợi khoảng lặng, sau đó nương theo con sóng để bơi vào bờ, hướng chênh chếch 45°.

Như mọi người dân Đà Nẵng chính gốc, mỗi khi có mặt chốn nầy, tôi đều lần mò về thăm biển…Đó là biển của cuộc đời tôi. Lưu Vĩ Lân.

Rời biển của cuộc đời, loanh quanh bên kia sông đường vẫn còn dài, bạn sẽ đi qua nhiều địa danh như An Hải, An Cư, chùa An Phước, An Bàng để rẽ về Hội An…Nhiều nỗi niềm mong ước An hòa của người xưa vang vọng từ Đà Nẵng đến Hội An, An cần thiết và gần gũi như gió biển, con cá, bát cơm, dân chủ và các quyền tự do căn bản…

Dọc đường Võ Nguyên Giáp và những đường cắt ngang, ngoài kia là biển cả, bên nầy nhà cao tầng, khách sạn, nhà hàng…dành cho khách du lịch. Người dân địa phương chỉ đi ngang hoặc bước ra bãi tắm công cộng. Sang đường Trường Sa đi vào Hội An, bãi biển thường…trong phạm vi quản lý của các khách sạn, resort vốn dẫm chân ra tận biển. Như bao địa danh du lịch trên thế giới, cuối cùng, dân địa phương bị vét ra vùng ven, nhường đất cát nhà cửa cho những tập đoàn, những ông chủ…Kiến trúc không thay thế con người. Những tháp Eiffel, Bảo Tàng Louvre, Khải Hoàn Môn… ở Hàng Châu, Trung Quốc là đồ giả, trong khi tại Paris, người dân đang sinh sống, làm việc không xa các di tích lịch sử là một phần  ký ức Paris. Từ Montréal đi thăm phố cổ Québec ở Canada hai lần năm 2019, tôi có cảm tưởng phố cổ Québec không có dân địa phương sinh sống, chỉ khách sạn hàng quán và khách du lịch. Có thể đó là một cái nhìn chủ quan, vội vàng nhưng thực lòng. Tôi hỏi vài người Québecois tại chỗ, thấy những lời giải thích không mấy thuyết phục. Phố cổ Hội An thì khác, người dân vẫn sống, buôn bán trong lòng phố cổ dù đất lành chim đậu có người tha phương đến làm ăn, buôn bán. Phố đi bộ về đêm góc Bùi Viện mà tôi thường lưu lại khi vào Sài Gòn nay cũng đã sang tên đổi chủ rất nhiều. Chiếc mề đay mang tên du lịch thường có hai mặt, nhiều khi chỉ thấy mặt kim tiền.

Bạn và tôi vừa đi qua mấy nẻo đường quen thuộc Đà Nẵng thuở ấy, đi xe máy vì người Việt mình bây giờ rất ngại đi bộ, tản bộ trông có vẻ…tội nghiệp! Thú đi bộ, vừa đi vừa ngước nhìn bâng quơ hay cảm nhận vu vơ, đã mai một, chỉ khách tây mới thích lang thang đây đó. Đi bộ trên đất nước Đỉnh cao chói lọi xem ra có vẻ nửa đường đi xuống. Dĩ nhiên, cũng còn người đi bộ dọc bãi biển, bờ sông buổi sáng, buổi tối khi lệnh giãn cách xã hội nhẹ nhàng hơn kể từ hôm nay (11/9/2020), nhưng họ đi là để vận động, tập thể dục.

Nếu bạn đề nghị tôi đưa đến thăm những khu phố mới ở Thanh Khê, Cẩm Lệ, Hòa Cường, Hòa Xuân, Ngũ Hành Sơn…thì chắc chắn tôi phải bấm Google map xem trước vì đó là những khu đô thị mới, đường sá mới mà mình không mấy rành rẽ, hơn nữa cũng đã bắt đầu thấy mỏi gối chồn chân muốn dừng. Người đứng lại. Ngoài kia, dòng sông cứ thế vẫn trôi, sóng nhấp nhô và biển vỗ về.

                                                        TỐNG VĂN THỤY. 9/2020

Catégories
Prose

THE RELATIONSHIP BETWEEN PHALLIC-SHAPED ANCESTOR STONE STATUES, DOL HAREUBANG, IN TEJU ISLAND, SOUTH KOREA AND THE VIETNAMESE HÙNG ANCESTORS

Nguyễn Xuân Quang (BP63)

.

Dol hareubang,Teju Island, South Korea (author’s picture).

In Teju Island, South Korea there are phallic or mushroom shaped ancestor stone statues called dol hareubang. The hats of these statues are commonly referred to as phallic or mushroom-like. Nowadays, these dol hareubangs are the symbols of Teju Island.

Dol hareubang, Teju Island, South Korea (author’s picture).

Author and dol hareubangs, Teju Island.

The name dol hareubang derives from the Korean word for “stone” (dol 돌) plus the Jeju dialect word hareubang(하르방) meaning “grandfather” or “senior” (harabeoji [할아버지] in Standard Korean) and was coined in the mid-20th century…

At present time, they are considered to be gods offering both protection and fertility and were placed outside of gates for protection against demons travelling between realities.

There are three main theories as to the origin of dol hareubangs ; either that they were introduced by visitors from the sea, that they are a counterpart to the jangseungs (totem poles) of mainland Korea, or that they spread with shamanic mushroom culture.

Halla San (in Teju) has been named in Korean literature as one of the “Sam Shin San” (삼신산/ 三神山), or one of the Three Spirit Mountains. Each of these mountains are considered gateways to the spirit world, and have the Amanita muscaria (mushroom) growing in abundance. This mushroom is well known by the Siberians and is a possible origin for the Stone Grandfather.

The mushroom and its related imagery has had great importance in Korea, visible in ancient crowns, funeral urns, the Ship Jang Saeng Do (십장생도). The Dol Harubangs are a form of political propaganda, representations of the sacred powers of the mushroom, its associated deity, and attesting to the power of the Shamans (Wikipedia).

However, to me, the mushroom shape of these statues is not a symbol of the shamanic mushroom cult but is related to the cosmogeny religion which worshipped the Universe including the Sun.

As we know that in cosmogeny, the universe was created on the basis of the interaction of female element (nòng, yin) and male element (nọc, yang). It is composed of Three World (Upper, Middle and Lower or Under World) represented by a tree called Cosmic Tree (Three World Tree, Three of Life). The mushroom has the most appropriated shape of this Cosmic Tree. The dome of the mushroom portrays the Upper World. The lower part beneath the dome is the Middle World. The root is the Under World and the trunk (stem) is the World Axis. The Cosmịc Tree of the Thái people in Nghệ An Việt Nam is a mushroom. The main Nguyễn Xuân Quang type VI or Heger type I drum of Đông Sơn (Dongson) bronze drums has a mushroom shape. This mushroom shape drum such as Ngọc Lũ I drum is the symbol of Cosmogeny religion (Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, Decipherment of the Southeast Asian Bronze Drums, in Vietnamese).

The Nguyễn Xuân Quang type VI or Heger type I drum of Đông Sơn (Dongson) bronze drums has a mushroom shape.

The dome of the mushroom portrays the Upper World. The lower part beneath the dome is the Middle World. The root is the Under World and the trunk (stem) is the World Axis.

The dome of the mushroom portrays the Upper World. The lower part beneath the dome is the Middle World. The root is the Under World and the trunk (stem) is the World Axis.

Noted that the Halla mountain which has been named in Korean literature as one of the “Sam Shin San” is related to Vietnamese Ba Vì (Trinity) Mountain. The Ba Vì Mountain also called TamTừng Mountain (ThreeTiered Mountain) portraying Three World Mountain or TảnViên Mountain (Parasol-Shaped Mountain) portraying Cosmic Mushroom.

So, evidently, I doubt that the Amanita muscaria mushrooms play any important role with the mushroom-shaped dol hareubangs.

Later, in the patriarch society, the sun worship became dominant, then the mushroom, seen on the yang side, represented the phallic. The mushroom shaped Dong son bronze drums seen on the yang side have the phallic form.

Nguyễn Xuân Quang VI or Heger I seen on the yang side has the phallic form.

A bronze drum has phallic/mushroom shaped form (Bảo Tàng Lịch Sử Thừa Thiên).

So, the mushroom cult seen in Korean culture is related to the cosmogeny religion, sun religion in general and particularly to the Vietnamese Đông Sơn drums, (symbols of the Vietnamese culture based on the cosmogeny and sun religions). This explains why the Korean funerary urns and ancient crowns have the shape of mushroom. The ashes of the dead were buried in the cosmic mushroom funerary urns for the dead can be reborn or to go to eternity. The Korean kings are the Sun kings, Son of the Sun god.

Therefore the dol hareubangs, considered to be related to the mushroom culture, are simply related to cosmogeny and sun religions and thus related to the Vietnamese Tiên Rồng (Bird-Snake, yang-yin) culture.

Obviously, the theory that “the origin of dol hareubangs introduced by visitors from the sea” is the most convincing. This also explains the difference between the Teju Island and the Korean peninsular culture.

Now, let find out where the dol hareubangs came from ?

Through my article The Relation between the Ancient Korean History and Vietnamese Ancient History (in Vietnamese) we know that the ancient Korean people had a root closely related to the Vietnamese Lạc Việt (Luo Yue).

The Kings of the Southern states of the Korean peninsular had the same legendary creator as the Vietnamese Hùng Kings. They were born from a cosmic egg or mundane egg. Sun worship is also very particular in Korean culture.

My literature works also demonstrate that the Vietnamese supreme Hùng Ancestor is the sun god Viêm Đế (Yen-Ti) and Hùng Vương, the historic Sun kings are the descents of Viêm Đế. One of the meanings of the term Hùng is male, penis, sun, dương (Sino-Vietnamese term dương means yang, male, sun).

Etymologically, Viêm Đế has the word Viêm meaning Hot and Đế meaning Pillar, Axis, Stake. Viêm Đế means Hot Pillar, Sun, Penis. The Hindu Shiva god symbolized by lingam (penis) has the same meaning “Pillar of Fire”. Shiva is related to sun god Viêm Đế.

Evidently, Hùng with the penis or phallic meaning must be seen under the view of the creation of the male or sun branch (not with a “porno” view).

It’s no doubt that the phallic or mushroom shaped dol hareubangs have the same DNA with the Vietnamese Hùng Ancestor.

How the dol hareubangs came to the Teju Island ?

In order to answer this question, we must find the foot prints of the dol hareubang from people related to the Bách Việt (Bai Yue). Two races we must look into are the Pacific Islanders and the Amerindians who originally were from South East Asia. All of them were related to ancient Việt people (Bai Yue).

a. Pacific Islanders

In Polynesia, phallic stone statues similar to dol hareubang were found in

. Bada Valley, Sulawesi Island, Indonesia.

Bada Valley or Napu Valley, located in the Lore Lindu National Park in Central Sulawesi contains hundreds of megaliths. Some locals believe they were used in ancestral worship. Some of the sources indicate that these statues show remarkable similarity to the stone statues of the Easter Island or with the stone figures found on Cheju (Teju) island in Korea (unspecial.org).

Maturu (‘Sleeping’).

Palindo (‘The Entertainer’) (deanmayerson.org).

Note that Palindo is in an erect male genital position.

.Raivavae Island.

Raivavae is an island that is part of the Austral Islands in French Polynesia. There are monumental phallic ancestor stone statues that have been discovered.

Phallic stone statue in Raivavae Island (humanpast.net).

Further, close to the South America coast is the Easter Island (Rapa Nui).

Rapa Nui was populated by people of Polynesian origins.

The island was most likely populated by Polynesians who navigated in canoes or catamarans from the Gambier Islands (Mangareva, 2,600 km (1,600 mi) away) or the Marquesas Islands, 3,200 km (2,000 mi) away. When James Cook visited the island, one of his crew members, a Polynesian from Bora Bora, was able to communicate with the Rapa Nui. The language most similar to Rapa Nui is Mangarevan with an 80% similarity in vocabulary (Wikipedia).

The most well known symbols of the Easter Island are the monolithic statues called moais

A moai from Easter Island placed in front of Museo Fonck, Valparaiso, Chile.

The islanders held the belief that the entire moai was a phallic symbol (bibliotecapleyades.net).

A moai with a phallic shaped hat (art.com)

Kneeling phallic shaped moai (highonadventure.com).

They are considered to be gods offering both protection and fertility.

However, many recent researches revealed that the moais are related to the sun worship, to the astrology and to the cosmology.

b. Amerindians

In the Recuay culture (a pre-Inca culture) in Peru, the ancestor stone statues are similar to the dol hareubangs.

Author and Recuay ancestor stone statue placed in front of Museum of Larco, Lima, Peru.

Recuay culture is a pre-Incan sun worship and ancestor worship similar to the Vietnamese and Korean cultures.

To verify by mean of the linguistics, in the Andean Indian language (including Quechua of the Inca, sun worshippers) the terms “ancestor”, “lineage ” and “penis” are relatives (Salomon 1991:20 ; Zuidema 1977:256). This is the same in the Vietnamese language. Based on the rules of historic sound change in the Vietnamese language, Vietnamese term giống (sex, lineage, race) relates to chống (supporting stick) and chông (pointed stakes used as booby trap, punji sticks). Stick, stake, punji stick are the symbols of penis.

As mentioned above, the Vietnamese supreme Hùng Ancestor is the sun god Viêm Đế (Yen-Ti) and Hùng Vương, the historic Sun kings are the descents of Viêm Đế. One of the meanings of the term Hùng is male, penis, sun, yang.

The similarity of these terms in the two languages shows that the ancient Peru and Inca people must be related to ancient Vietnamese people. Language also points out that the term ancestor, lineage, penis, male, sun are related. Therefore, the phallic statues in the Polynesia, in ancient Peru, in Teju Island are the symbols of the sun lineage, related to the Vietnamese people, decent of the sun god Viêm Đế. The Đông Sơn bronze drums are the icons of the sun worshipping Vietnamese race (Bai Yue), The People of the Sun.

In short, the phallic stone statues had the origin from South East Asia, territories of ancient Việt and spread out in two different ways. One way was to the North via Bering straight then down to America. Another way was down to the Pacific sea (Austronesia, Polynesia) and then to America.

If seen as phallic shaped statues, the Teju Island’s dol hareubangs are related to the Vietnamese Hùng Ancestor sun god Viêm Đế in the sun religion. The sun at the center of the tympanum of the Đông Sơn bronze drums proves this Vietnamese sun worshipping religion.

If seen as mushroom shaped statues, the dol hareubangs are related to the Vietnamese cosmogeny religion based on Tiên Rồng, Bird-Snake, yang-yin principle. The mushroom-shaped Đông Sơn bronze drums are the icons of the Vietnamese cosmogeny religion.

The dol hareubangs came to Teju Island either via South East Asian coast line or from the islands of the South Sea or perhaps from the group of small islands around Taiwan island.

We can conclude that these phallic/mushroom shaped ancestors statues found in South East Asia, Austronesia, Polynesia, Pacific Islands and in the American continent are related to the Cosmos/Sun worship religions and to ancient Việt people.

https://nguyenxuanquangbacsi.wordpress.com/2012/09/07/the-relationship-between-phallic-shaped-ancestor-stone-statues-dol-hareubang-in-teju-island-south-korea-and-the-vietnamese-hung-ancestors-2/

Catégories
Prose

Hội An Thời Thơ Dại

Ý niệm về phố thị đến với tôi từ Hội An, ngày lên bốn. Rời ngôi làng quê lác đác nhà, với những con mắt đèn dầu nhập nhèm đêm đêm gắng sức nháy gọi nhau qua những cánh đồng trống hoang, tôi bước vào một thế giới chi chít nhà, chói lòa ánh sáng.

Mẹ đi học nghề, Ba đi làm, trong gian nhà thuê nhỏ, ba chị em trứng gà trứng vịt thơ thẩn chơi cùng trẻ em hàng xóm. Kỳ thú sao, những đồ hàng nhựa rực rỡ sắc màu. E ngại quá, những trò đùa láu lỉnh của bạn bè thành phố.

Xóm lao động nằm gần khu biệt thự, buổi chiều tiếng người cãi nhau trong mùi xào nấu, thoảng vào một âm thanh dìu dặt mơ hồ mà sau này tôi mới biết ấy là những khúc nhạc của Chopin. Cách nhau một con đường, căn nhà phủ đầy hoa ti gôn và những đứa trẻ mặc áo đầm trắng, nơ hồng, ẩn hiện như một thế giới xa vời. Nửa đêm, trong những cơn mơ tuổi thơ chập chờn, tôi giật mình tỉnh giấc bởi tiếng la : “Tau xởn, tau xởn” và bác Mười hớt tóc chạy quanh, tay nhăm nhăm kéo, rượt theo bác gái chân quíu vào nhau với mớ tóc dài xõa xượi. Buổi tối ấm áp cả nhà quây quần trên chiếc chõng tre cập kênh. Tô nước phở tỏa hương thơm phức đưa những muỗng cơm rất trơn. Có lần bị mất điện, đứa em thứ hai dẫy chân dỗi ăn, chiếc đèn dầu ngã vào chân tôi làm thành một vệt bỏng dài.

Mùa hè, trời đứng gió, những con thiêu thân bay đầy các bóng đèn. Suốt mấy tháng, ba mẹ tôi cứ thao thức vì đứa em nhỏ chưa đầy năm đi tướt. Khuôn mặt như thiên thần của em xanh lướt, một vẻ đẹp mong manh lạ lùng làm ai đi qua cũng ngoái nhìn. Mùa thu, chợ ven sông đầy rau xanh và quả lạ. Nhớ làm sao món quà mẹ chia cho. Trái thị vàng ươm chơi chuyền rất vừa tay, lòng sung sướng vì lần đầu tiên có cái đáp tặng bạn. Chơi mỏi, cả lũ nhấm nháp, những chiếc răng sữa nhằn mãi cái hạt thị như kéo dài một niềm vui không chán. Sớm mai, nhiều lần cô bé là tôi đứng ngẩn ra nhìn chú Phùng, người đàn ông bị liệt chân, hai tay mang dép, lết ra từ Viện Tế bần. Như hẹn trước, những người đàn bà đội những bó rau muống to và dài, xanh ngút ngát, đi như chạy từ ngoại ô vào, một vài bàn tay khẽ khàng lật chiếc mũ vải nhàu nhĩ trên đầu ông, nhét vào đó đồng tiền lẻ ẩm ướt, mở hàng.

Một chiều đầu năm, tò mò đi theo những người tảo mộ. Vui chân, không biết đường xa, hai chị em tôi lạc vào một thế giới lạ lùng. Một thành phố khác : thành phố của mộ bia. Bóng chiều dâng lên nhanh quá. Mắt tôi đầy cỏ may và nhang khói. Đôi chân bé ngập trong mặt đất bao la, rụng rời vì mỏi và một nỗi hãi hùng chưa từng thấy. Những tiếng quạ bay quàng quạc làm chúng tôi giật thót từng hồi. Đi loanh quanh không thấy một bóng người, trong nỗi tuyệt vọng cùng cực, chúng tôi ôm nhau òa lên khóc. Lúc ấy, tiếng lê người quen thuộc của chú Phùng vọng đến. Lựa lúc chợ tàn, xin được bó hoa ế cuối ngày, chú lết ra thắp nhang cho vợ.

Hội An lần ấy được bồi thêm lớp phù sa mới sau này, với những cuộc lưu trú ngắn và ghé qua thoáng chốc. Mùa hè năm 7 tuổi theo cha, bỡ ngỡ trong thế giới sách vở và phim ảnh. Sẽ không còn cuốn sách nào hấp dẫn hơn cuốn sách Hồng Ông Đồ bể và Cái ấm đất. Sẽ không tìm thấy cuốn truyện có minh họa nào lộng lẫy hơn Chú bé tí hon và Bạch Tuyết và bảy chú lùn của Perrault. Tôi đã đọc chúng trong tiếng sông rạt rào chảy sát sau nhà trọ, hay là tiếng đập háo hức của trái tim mình, nào có biết. Tôi đã ngoạm sâu vào trái ổi xá lị lòng đào ngọt mềm và hình dung nàng Bạch Tuyết ngây thơ cắn vào trái táo đỏ của bà Hoàng hậu. Nhẩn nha thưởng thức dĩa xôi buổi sáng vàng ươm, tôi thèm chén nước vối của anh Ba (*) hạnh phúc.

Với Hội An, tôi có khái niệm ngày cuối tuần. Và thứ bảy là biểu tượng của sự thụ hưởng chỉ dành cho người thành thị : bộ phim đầu tiên tôi được xem là ở cái rạp hát duy nhất của thị xã. Hoa mắt bởi những tấm affiche đầy màu sắc, ngẩn ngơ vì những bóng nam thanh nữ tú, ngập tai bởi những âm thanh và cuối cùng sững sờ vì những hình ảnh và câu chuyện trong phim, tôi bị một đêm mất ngủ. Từ đó, tôi hiểu rằng có một thế giới mênh mông ngoài kia luôn mời gọi những tâm hồn khát khao phiêu bồng. Cũng hình thành từ đấy, cái thú dạo chơi và ngắm nhìn. Những con phố hẹp quen- mà- lạ của Hội An, chân đi không đủ mỏi, khi về lòng cứ bâng khuâng. Mỗi lần qua chùa Cầu, bước tôi rón rén, tim tôi hồi hộp, mắt cứ dán vào những chú chó gỗ lưỡi khô trong ánh chiều chạng vạng. Nhiều năm sau, nhớ lại, tôi chợt nghĩ, chiếc cầu bé nhỏ kỳ lạ này lại là một ám ảnh lớn nhất đối với tôi về cây cầu.

Khi xây cầu để nối đôi bờ, hình như nhà kiến trúc còn muốn gửi tặng con người Hội An một chiều nối khác thuộc về tâm tưởng. Từ ấy, những bèo bọt của bể dâu đã dừng lại bên ni cầu, giữ cho Hội An cái trong ngần tĩnh lặng. Dòng sông, cây cầu, thế đất và cái tên được đặt như một ước vọng, đã làm nên phong thái người Hội An. Ký ức tôi ghi lại hình ảnh một chị Thúy tóc mềm lả lướt, giọng nhẹ bâng. Những người phụ nữ Hoa da trắng mát, mắt dài ngồi lơ đãng nhìn người qua lại ở cửa hàng Phi Anh, Phi Yến, sang cả và lãng mạn. Dì bán rau gọn gàng và tinh tế trong trang phục và gánh hàng. Bác Tàu già gầy gò đen điu đội nón nan, cười nhăn nheo bên phố rêu, thong thả múc những chén lục tào xá ngọt lừ bốc khói.

Một vài lần hiếm hoi, cả nhà được “kéo ghế”. Tôi nhớ mãi cái quán cao lầu gió hiu hiu. Tô nước dùng nóng, ánh một váng mỏng mơ hồ quyện vào màu xanh non của húng quế. Những sợi cao lầu chạm vào đầu lưỡi, thoạt tiên nghe hơi sượng, rồi dìu dịu, đầm đậm, vương vấn mãi một vị không thể gọi nên bằng lời của lúa gạo và tro than, của đất và nước sông Hoài. Khi ra về, trên tay trĩu nặng chiếc bánh su sê xanh biếc màu lá dừa như món đồ chơi xinh, ấm áp nghĩa tình.

Thế mà đã lâu lắm rồi tôi không trở lại. Đứa em cùng thơ thẩn ngày xưa đã bay theo một cung đường khác khi chưa đến tuổi 20. Phố thị ấu thơ vẫn canh cánh bên lòng một lời hẹn. Rồi tôi sẽ về. Sẽ cùng lang thang đi tìm dấu chân thơ dại. Sẽ cùng ngồi thả chân trên bờ nước sông Hoài, tìm chút bình yên. Dẫu mùa trăng hay đêm sao, Hội An ơi, hãy thức đợi tôi về.

NGUYỄN THỊ THANH XUÂN

Catégories
Prose

Nói về Thơ

À mes Anciens du Collège Francais de Tourane
Lưu Nguyễn Đạt

.

nuitée améthyste, oil enamel, luu nguyen dat – 2007

Nói về thơ gần như sống trong thơ một lần nữa. Đó cũng là cảm nhận dây chuyền, khi tình cờ gần gũi với dòng thơ. Thơ, vốn nội tâm, là niềm vui, nỗi buồn từ cuộc sống. Thơ vào đời và đời cũng nhập thơ. Như dòng nước với nụ cười ; như hơi thở của sóng vơi.

Trong thơ, biển cả đã đổi màu, huyền biến vu vơ, trong tầm mắt và chiều sâu của hồn người thi sĩ. Tình yêu cũng vậy, qua lời lẽ ẩn vùi nhiệt độ, đã hoá chất thơ thành thứ ánh sáng tuyệt mỹ, sau và trước cả mọi bình minh, như tia nắng cuối cùng giữa lòng đêm và ngọn lửa rừng vừa chợt tắt, khi vạn vật còn hoang mê, chìm đắm, và chữ nghĩa còn lang bạt, lạnh nguồn.

Thơ đôi khi cũng yêu sách, đòi hỏi. Đòi hỏi mình và yêu sách cả cuộc đời. Đòi dòng sông nhập thành biển cả. Hỏi sao nguồn cảm hứng ngược dòng khơi. Yêu hạt sương tích tụ thành mây. Và sách cả niềm tin từ giọt nước mắt loài người. Từ nỗi đau triền miên quanh thế giới. Từ giọng hát vào đời, bỗng chia đôi. Còn yêu sách, đòi hỏi gắt gao hơn thế nữa, chẳng qua vì đáy lương tâm còn nguyên vẹn, hay đam mê chưa tắt hẳn mà thôi.

Thơ huyền biến, lúc hiền hoà, lúc độc ác. Như vị cay, vị ngọt cuối làn môi. Có lúc say đắm vô hạn. Có lúc hạn hẹp, chua xót, cạn vơi. Hư hư, thực thực. Ngập tràn trong dấu tích, xa cách trong buộc ghép ngàn nơi. Nhà thơ phải lòng chữ nghĩa. Phải lòng cuộc đời trọn vẹn, dang dở – ngay trong bạt xiêu, tuyệt vời.

Thơ là cơ thể và sức sống. Là đứa trẻ nghịch đùa với dòng sông như môi yêu với tình tứ. Là giọt máu buốt đau và mảnh da quằn quại. Thơ đấu tranh, đòi quyền sống trong nhu yếu vô thường, và bất lực trong đổi chác căn cơ. Bất lực, dù vĩnh cửu từ vắng vợi đời người.

Thơ vô hình, vô dạng. Thơ ở ngoài sách vở, ngoài hiện thực, vu vơ, miệt mài, lạc lõng. Thơ thất lạc ngay trong lòng thơ. Thất lạc ngay trong tâm hồn người thi sĩ – ngoài tầm giao cảm với đối nhân. Thơ đã trở thành đứa con tư sinh vô thừa nhận. Xiêu vẹo, nghiêng ngửa ngay tại dòng chữ nghiệt ngã, keo kiệt. Bị chèn ép trong nhịp bước trần gian, thơ cô đơn trong cảnh vọng trần tục, trong toang vỡ trần truồng. Vì thế, thơ không ai dám nhận, dám tin, dám hỏi. Và cũng ít ai đủ khả năng nuôi dưỡng, gả gấm, hoặc đủ bản lĩnh gạ gẫm nàng thơ.

Nhưng cũng có lúc thơ là tặng dữ cuối cùng trong cuộc đời, là niềm vui còn sót lại đêm qua. Những lúc tận cùng vời vợi đó, làm thơ tức là nhặt chữ nối nguồn, là đãi cát tìm vàng, là đào khởi lòng than âm u, tì tích, để tìm hạt kim cương tinh khiết, xuất chúng. Thơ sẽ gạt bỏ bạc bẽo để sưởi ấm lòng đau. Sẽ quét sạch đường đời và khởi sắc vạn nơi : thơ chiết xuất thơm tho từ ô uế, tiếp nhựa sống vào thân cây, và đặt niềm tin trong lòng người.

Vì thế, thơ là con đường văn chương hoá dạng : nửa nọ, nửa kia ; nửa sáng nửa tối ; nửa vui, nửa buồn ; nửa người, nửa vật. Một thế giới bâng quơ, lơ lửng, ngược xuôi, xuôi ngược. Liên tục trong trí nhớ, lại có lúc cách quãng trong u uẩn, trước sau muôn mặt, thiên hình, vạn trạng. Có cũng như không, không rồi lại có. Tất cả là khát vọng, hay thất vọng, trong bao dung, toàn bích. Là hào hứng trong phân mảnh, tuyệt vời.

Thơ trong sạch hay bụi bậm là do lòng người tìm kiếm chất thơ. Thơ không mùi không vị, không tình không nghĩa, mà chỉ mượn mùi thơm ngọt từ cỏ cây, vị say từ hơi thở nồng nàn, và tình nghĩa từ ánh mắt cô liêu, đắm đuối. Người thi sĩ nhìn và nhớ vạn vật chung quanh câm nín, hoang sơ. Thơ nguyên vẹn, mong manh trong dấu vết xa gần. Thơ bừng khởi trong tiềm thức sơ sinh, bao bọc. Ta đã khoác lên vai, lên tóc và vết tích nó những bụi bậm, tanh hôi của thân phận làm người. Thơ lạc lõng vì hồn người lạc lõng. Thơ chảy máu vì tế bào người u uẩn, cắt, vùi. Thơ tì ố, tàn tạ như chiếc áo kẻ tù đày. Thơ cũng trong sáng như ánh mắt thơ ngây, trong bình minh vĩnh cửu của vạn vật luân lưu, muôn thuở tái thế.

Thơ nổi chìm, sâu sắc. Thuyên chuyển từ tế bào này sang tế bào nọ. Như giọt tình, giọt nước mắt ngấm lòng người, ngấm lòng vạn vật. Thơ cũng là những câu hỏi không để trực tiếp trả lời, hay trả lời để hỏi lại. Trong vô hạn, mong manh, như những công án thiền định :

nếu mọi dòng sông đều ngọt ngào
biển cả lấy muối mặn từ đâu ?

if all rivers are sweet
where does the sea get its salt ?[1]

Ý thơ và bóng chữ đã đôi lúc chung tình, giao hợp để cùng nhau thoả ước, khép mở, mật thiết lẫn nhau. Thơ cố gắng trả lời sành sỏi. Nhưng nhiều lúc thơ lại vụng về, giả định, vu vơ, vì tạm bợ, không chủ đích. Tới nơi mà không biết. Lạc lõng mà không hay. Ngay lúc tuyệt độ trong cơ bản tâm tình. Ngay lúc phá thể trầm trọng để xây dựng lại một trật tự mới, khác với trật tự hiện hữu. Ngay trong cách sống vô vi, vô thường :

sáng trăng vời vợi xa bao ngả
xa cách lòng tình xa nguyệt nga ?

how far is the light of the moon
from the moon ?[2]

Nhà thơ không chịu trả lời gọn gàng, minh bạch, chỉ tủm tỉm cười, rồi trì hoãn vu vơ, hay giải đáp trong hững hờ, cởi, mở. Thành thử câu hỏi vẫn mãi mãi nguyên vẹn trong lòng người còn tìm, còn kiếm. Nguyên vẹn từ đầu, bất tận về sau.

Thơ có lúc vắng dấu chân người, mà chỉ còn là vết tích của đá, của hoa, cỏ lạ, nguồn, khơi. Trong những lúc khô khan tuyệt tích, cạn hơi, cạn hứng, người thi sĩ đã tìm đường về một địa hạt xa xăm siêu thực, như tìm đường lên nơi thần linh hay đất cấm, nơi dư âm, hoài cảm hay huyền thoại, hư vô. Thi sĩ đã thu ngắn lại, buộc nối lại con đường cũ đưa dẫn về nhà trời, xuyên qua hình dáng mong manh, mở đón của tạo hoá, của cỏ cây, của tảng đá dẫn lộ. Đó không phải là những cảnh vật vô tri vô giác, những khối tảng ù lì, cục mịch, mà là những hồn đất, hồn cây, nhữnh tảng đá từ không gian lạc vào lòng đất, nhưng vẫn biết bay bổng, vẫn nhớ bay bổng, thu hút ; biết gọi nắng từ mưa ; biết nghe tiếng thì thầm của những tâm hồn kiệt quệ, khát khao. Đó cũng là những hạt đá quý, những lệ đá xanh, những tâm linh ẩn náu cạnh thân thể người yêu :

khi em vuốt ve ngọc biếc
ngọc biếc vuốt ve em

when you touch topaz
topaz touches you[3]

Như vậy thơ có thế giới riêng biệt của nó, trong công cuộc tìm lại lòng người, tìm lại lòng nguyên thủy của đất trời, thiên nhiên, của tiếng nói đầu tiên từ trí nhớ nhân loại, từ huyền thoại của ý nghĩa ẩn vùi trong lãng quên tập thể. Thơ dẫn đường vào toàn bích, hé mở thành tôn giáo bỏ ngỏ, hoang vu. Thơ tìm nguồn để tạo lại cội nguồn, tạo lại tông tích siêu thoát. Thơ hy vọng cả trong nỗi tuyệt vọng.

Thơ là cuộc hành trình với con người vậy.

.
Lưu Nguyễn Đạt, PhD, LLB/JD, LLM

.

[1] Pablo Neruda, The Book of Questions, (El libro de las preguntas), Copper Canon Press : Port Towsend, 1991. Câu hỏi có chiều sâu thách đố tuyệt đối như những công án (koan) xuất phát từ tâm thức các thiền sư.

[2] Pablo Neruda, The Book of Questions. Nhận định như trên.

[3] Pablo Neruda, Stones of The Sky, (Las pierdas del cielo), Copper Canon Press : Port Towsend, 1987.

.

DE LA POÉSIE
http://www.blaisepascaldanang.fr/spip/article.php3 ?id_article=584

.

Catégories
Prose

Những Vì Sao

( Lời thuật chuyện của một gã chăn cừu xứ Provence )
Tác giả : ALPHONSE DAUDET
Bản dịch Việt ngữ : TRÚC HUY

.

.

.

Trong thời gian tôi chăn cừu trên miền núi Luberon (2), có khi suốt mấy tuần lễ liên tiếp tôi không trông thấy một bóng người, chỉ một mình tôi trên cánh đồng cỏ với chú chó Labri và đàn cừu của tôi. Thỉnh thoảng có vị tu sĩ sống ẩn dật ở núi Ure đi ngang qua đây để tìm kiếm dược thảo hoặc là tôi trông thấy bộ mặt lọ lem dính đầy bụi than của người phu mỏ xứ Piémont ; nhưng họ là những người chất phác, khuôn mặt lầm lì vì quen sống lâu ngày trong cảnh cô đơn, không còn hứng thú trò chuyện và chẳng biết gì về những chuyện trong làng ngoài tỉnh mà người ta đang bàn tán ở dưới đó. Vì thế, cứ khoảng mười lăm ngày, khi tôi nghe tiếng lục lạc từ con đường mòn dưới núi đi lên của con la ở nông trại mang lương thực nửa tháng cho tôi, rồi tôi thấy xuất hiện dần dần trên sườn dốc bộ mặt tươi vui của thằng bé miarro (thằng nhỏ giúp việc ở trại) hay chiếc khăn trùm màu hung đỏ của thím già Norade, là tôi cảm thấy trong lòng thật sung sướng vô cùng. Tôi yêu cầu kể cho nghe những chuyện xảy ra ở dưới đồng bằng, những buổi lễ rửa tội, những đám cưới hỏi… Nhưng điều mà tôi chú ý và thích nghe hơn cả là biết tin tức về cô con gái cưng của ông bà chủ trại, vị tiểu thư Stéphanette, thiếu nữ xinh đẹp nhất trong toàn vùng. Cố làm ra vẻ như không mấy quan tâm, tôi hỏi thăm xem nàng có hay đi dự nhiều lễ hội hay dạ tiệc không, có nhiều chàng trai ngấp nghé tán tỉnh không. Và nếu có ai hỏi tôi muốn biết những chuyện ấy có ích lợi gì cho cái thân phận nghèo hèn của một tên chăn cừu miền núi như tôi, thì tôi sẽ trả lời rằng tôi đang ở tuổi hai mươi và đối với tôi nàng Stéphanette là người thiếu nữ xinh đẹp nhất trần gian.

Thế rồi, một hôm chủ nhật nọ, tôi cũng chờ đợi chuyến tiếp tế lương thực cho nửa tháng, nhưng sao lần này nó tới muộn quá. Từ buổi sáng, tôi nghĩ bụng : “Có lẽ vì lễ lớn ở nhà thờ đây thôi.” Rồi đến trưa, một trận mưa giông lớn đổ xuống, tôi lại cho rằng vì đường trơn ướt lầy lội, con la chưa thể lên đường được. Mãi cho đến khoảng ba giờ chiều, trời quang mây tạnh, sườn núi lấp lánh nước mưa và ánh sáng mặt trời, tôi bỗng nghe được, giữa tiếng nước nhỏ giọt róc rách trên cành lá và tiếng suối reo do nước lũ dâng trào, tiếng lục lạc leng keng của con la, nghe thật là vui tươi rộn ràng chẳng khác gì tiếng chuông nhà thờ đổ hồi trong ngày lễ Phục sinh. Nhưng không phải thằng nhỏ ở nông trại, cũng chẳng phải thím già Norade ngồi trên lưng lừa như mọi khi. Mà là… xin bạn thử đoán xem là ai ? Chính là vị tiểu thư trại nhà, bạn ạ ! Đúng vậy, vị tiểu thư Stéphanette đích thân đến. Nàng ngồi ngay ngắn trên mình la giữa những chiếc giỏ mây, đôi má ửng hồng vì khí trời của núi và làn gió mát sau trận mưa giông vừa qua.

Thằng nhỏ bị bệnh, còn thím già Norade thì xin nghỉ phép về thăm con. Nàng Stéphanette xinh đẹp vừa từ trên mình la tụt xuống vừa nói cho tôi biết như vậy. Nàng còn nói thêm vì lạc đường cho nên đã đến muộn. Nhưng trông nàng ăn mặc đẹp đẽ như thế kia, trên đầu kết băng hoa và vận chiếc váy lộng lẫy có thêu đăng ten, tôi thấy cô nàng có vẻ như đã nấn ná ham vui trong một cuộc khiêu vũ nào đó hơn là đã dò dẫm tìm đường trong các bụi rậm. Ôi, người đâu mà xinh đẹp lạ thường ! Tôi say đắm nhìn nàng mà không muốn rời mắt. Thật tình mà nói, tôi chưa bao giờ có dịp được ngắm nhìn nàng ở gần như thế. Về mùa đông, sau khi đã lùa đàn cừu xuống đồng bằng, tôi về nông trại để dùng cơm tối, thỉnh thoảng tôi thấy nàng đi thoăn thoắt ngang qua phòng ăn của chúng tôi, nhưng chẳng mấy khi nàng nói chuyện với kẻ ăn người ở, luôn luôn trang điểm đẹp đẽ và có vẻ hơi kiêu kỳ một chút… Thế mà bây giờ tôi lại có được cái diễm phúc là nàng đứng ngay trước mặt tôi, và chỉ có mình tôi thôi, như vậy thì bảo làm sao tôi không bối rối cho được ?

Sau khi lấy hết lương thực từ trong các giỏ ra, cô nàng bắt đầu tò mò đưa mắt nhìn chung quanh. Nàng vén nhẹ chiếc váy đẹp cho khỏi lấm, bước vào phía bên trong lán, muốn xem chỗ tôi ngủ, chiếc ổ rơm có phủ tấm da cừu, cái áo choàng rộng treo trên vách, chiếc gậy, cây súng đá… Tất cả những thứ đó có vẻ làm cho nàng thích thú.

– Thì ra anh ngủ ở đây à, anh mục đồng tội nghiệp của tôi ! Sống một mình như thế này thì chắc là buồn lắm nhỉ ? Hàng ngày anh làm gì ? Anh nghĩ gì ?

Tôi rất muốn trả lời : “Nghĩ đến cô, cô chủ ạ.” Phải nói như thế mới trung thực với lòng mình, nhưng vì bối rối quá nên tôi không nghĩ ra được một lời nào. Tôi tin rằng nàng cũng nhận thấy sự bối rối của tôi, nhưng cô nàng tinh nghịch lại lấy đó làm thích thú và cố tình trêu chọc để làm cho tôi càng thêm bối rối :

– Mục đồng ơi, thế cô bạn gái thân thiết của anh có thỉnh thoảng lên đây thăm anh không ? Cô ấy chắc hẳn là nàng dê có bộ lông vàng hay nàng tiên Estérelle chỉ quen nhảy nhót trên các đỉnh núi thôi nhỉ ?

Trong lúc nói chuyện với tôi, chính cô nàng mới có dáng điệu giống như nàng tiên Estérelle, với nụ cười duyên dáng, đầu hơi ngả ra đàng sau và vẻ vội vàng muốn ra về, làm cho cuộc thăm viếng ngắn ngủi của nàng chẳng khác nào một sự xuất hiện bất ngờ.

– Thôi, chào tạm biệt mục đồng nhé.

– Xin chào tạm biệt cô chủ.

Thế là nàng đi mất, mang theo những chiếc giỏ không.

Khi nàng đã khuất dạng sau con đường dốc nhỏ, tôi tưởng chừng như những viên sỏi lăn lóc dưới móng chân la đang rơi từng viên một vào lòng tôi. Tôi còn nghe thấy trong lòng tiếng sỏi rơi như thế mãi cho đến lúc chiều tàn, không dám cử động, chỉ sợ làm tan vỡ giấc mơ đẹp của tôi. Chiều tối xuống dần, khi thung lũng bắt đầu ngả màu xanh lam và đàn súc vật kêu be be chen lấn nhau về chuồng, tôi bỗng nghe có tiếng ai gọi tôi từ phía dưới sườn núi, rồi tôi thấy vị tiểu thư của chúng ta xuất hiện, nhưng không còn vui tươi như lúc ban chiều mà run lập cập vì ướt lạnh và sợ hãi. Có vẻ như là, khi xuống phía lưng chừng sườn núi, nàng đã gặp con suối Sorgue bị nước lũ tràn ngập sau trận mưa giông, và vì nàng muốn lội qua cho bằng được nên suýt bị chết đuối. Nghiệt một nỗi, đêm hôm tối tăm, vào giờ này không mong gì về nông trại được nữa ; vì đi đường tắt thì nàng không thể một mình tìm ra lối về, còn tôi thì không thể bỏ đàn cừu mà đi được. Ý nghĩ phải ngủ lại qua đêm trên núi làm nàng rất băn khoăn và bối rối, vì sợ ở nhà bố mẹ lo lắng. Tôi cố lựa lời để nói cho nàng yên tâm :

– Trời tháng bảy, đêm ngắn thôi, cô chủ à… Không sao đâu, cô nên chịu khó một chút cho qua đêm thôi.

Tôi vội vàng nhóm một ngọn lửa lớn để nàng hơ chân và hong khô bộ áo bị ướt sũng khi lội qua suối. Rồi tôi mang sữa tươi và pho mát đến cho nàng, nhưng cô bé đáng thương chẳng thiết gì đến chuyện sưởi ấm hay ăn uống gì cả. Nhìn thấy nàng nước mắt lưng tròng, tôi cũng muốn khóc theo với nàng.

Rồi màn đêm cũng xuống hẳn. Chỉ còn một chút ít vầng dương còn vương lại trên đỉnh núi cao và một làn hơi ánh sáng mong manh ở phía mặt trời lặn. Tôi muốn để nữ chủ nhân của tôi vào nằm nghỉ bên trong lán. Sau khi trải một tấm da cừu đẹp và mới tinh xuống lớp ổ rơm mới, tôi chúc nàng ngủ ngon, rồi bước ra ngồi ngoài hiên cửa… Xin có trời chứng giám cho tôi, mặc dầu ngọn lửa tình hừng hực bốc cháy trong lòng nhưng tôi không hề có một ý tưởng xấu xa nào, trong lòng tự cảm thấy rất hãnh diện khi nghĩ đến ở góc lán bên kia, ngay cạnh đàn cừu đang tò mò nhìn nàng ngủ, có cô con gái của ông bà chủ tôi – như một con cừu non quý báu nhất và trắng ngần nhất – đang nằm ngủ và được giao phó cho tôi canh gác. Chưa bao giờ tôi được nhìn ngắm bầu trời sâu thăm thẳm và các vì tinh tú rực sáng lấp lánh như đêm nay…

Bỗng tấm chấn song xịch mở và nàng Stéphanette xinh đẹp xuất hiện bước ra. Nàng không tài nào ngủ được vì đàn cừu cựa quậy khiến rơm rạ kêu sột soạt hoặc là chúng kêu be be trong lúc đang ngủ mê. Nàng thích ra ngồi cạnh đống lửa hơn. Thấy vậy, tôi liền khoác tấm da cừu của tôi lên vai nàng, khêu to ngọn lửa, rồi hai chúng tôi ngồi bên cạnh nhau, im lặng không nói năng gì.

Nếu bạn đã từng ngủ qua đêm ngoài trời dưới trăng sao, chắc bạn cũng biết rằng trong khi chúng ta đang ngủ thì cả một thế giới huyền bí đang bừng sống dậy trong thanh vắng và tĩnh mịch. Lúc ấy tiếng suối reo nghe như rõ hơn, những ao hồ thấy có những đốm lửa li ti nhen nhúm lên. Những thần linh của núi rừng đi lại tự do ; và trong không gian có những tiếng sột soạt, những tiếng động rất khẻ, tưởng chừng như ta có thể nghe được một cành cây đang chuyển mình vươn dài ra và cỏ cây đang mọc thêm ra. Ban ngày là đời sống của các sinh vật, còn ban đêm là đời sống của các thực vật và sự vật. Nếu chưa quen với những tiếng động ban đêm, có khi làm cho ta sợ hãi… Thế nên vị tiểu thư của chúng ta, cứ mỗi lần nghe thấy một tiếng động dù là rất nhỏ, nàng cũng đã run sợ và lại nép sát vào người tôi. Có một lần, từ phía mặt ao hồ lấp lánh dưới kia, bỗng vọng lên một tiếng hú kéo dài não nuột, ngân vang uốn lượn về phía chúng tôi. Cũng vừa lúc đó, một ngôi sao băng rực sáng xẹt qua trên đầu chúng tôi và bay về cùng một hướng, tựa như là tiếng than van mà chúng tôi vừa nghe thấy kia đã mang theo một luồng ánh sáng vậy.

– Cái gì thế ? nàng Stéphanette khe khẽ hỏi tôi.

– Thưa cô, đó là một linh hồn vừa được lên thiên đàng. Nói xong tôi làm dấu thánh giá.

Nàng cũng làm dấu như tôi và ngửa cổ nhìn lên trời như thế một hồi lâu, vẻ mặt trầm ngâm. Rồi nàng quay lại hỏi tôi :

– Này mục đồng, có phải các anh đều là phù thủy cả không ?

– Thưa cô, không phải đâu ạ ! Nhưng vì ở đây chúng tôi sống gần trăng sao hơn những người dưới đồng bằng nên biết rõ hơn những sự việc xảy ra ở trên trời.

Nàng vẫn đưa mắt ngước lên nhìn bầu trời, đầu tựa vào lòng bàn tay, vai khoác tấm da cừu, trông cô nàng giống như một mục đồng của nhà trời vậy.

– Ồ, nhiều sao quá ! Thật là tuyệt vời ! Chưa bao giờ tôi thấy nhiều tinh tú như thế này. Mục đồng ơi, thế anh có biết tên của những vì sao không ?

– Biết chứ ạ, thưa cô chủ. Này nhé, ngay trên đầu chúng ta, kìa là Con đường của thánh Jacques (la Voie lactée) (3). Nó chạy thẳng một mạch từ nước Pháp sang nước Tây Ban Nha, do chính thánh Jacques de Galice (4) đã vạch ra để chỉ đường cho Charlemagne dũng cảm tiến quân đánh giặc Sarrasins (5). Xa hơn một chút nữa là Chiếc xe chở linh hồn (la Grande Ourse) với bốn trục xe sáng ngời. Ba ngôi sao đi phía trước là Ba con vật kéo xe (les Trois Bêtes), và ngôi sao nhỏ nhất ở sát ngay cạnh ngôi sao thứ ba là Người đánh xe (le Charretier). Cô có thấy chung quanh có một chùm sao rơi rụng như mưa sa không ? Đấy là những linh hồn mà Thượng Đế không muốn chúng ở cạnh Ngài… Rồi ở phía dưới một chút là sao Bừa cào (le Râteau), còn gọi là Ba Ông Vua (Orion). Đó là chiếc đồng hồ của mục đồng chúng tôi để biết được giờ giấc. Chỉ cần nhìn chúng là tôi biết bây giờ đã quá nửa đêm rồi. Phía dưới một chút nữa, vẫn theo hướng Nam, là ngôi sao Jean de Milan (6) sáng ngời, ngọn đuốc của các vì tinh tú (Sirius). Về ngôi sao đó, mục đồng chúng tôi thường kể chuyện như sau : Vào một đêm nọ, Jean de Milan cùng Ba Ông Vua và sao Rua (La Poussinière) (7) được mời đến dự lễ cưới của một ngôi sao bạn. Theo lời người ta kể, sao Rua vội vã đi trước, theo con đường ở phía trên. Cô nhìn xem kìa, ngôi sao ấy ở chỗ cao tít, tận cuối chân trời… Ba Ông Vua đi đường tắt phía dưới nên đuổi kịp. Riêng anh chàng Jean de Milan, vì lười biếng ngủ quên nên bị bỏ lại đằng sau ; anh ta bực mình liền quăng ngay chiếc gậy để cản đường họ. Bởi thế nên người ta còn gọi chòm sao Ba Ông Vua là Chiếc gậy của Jean de Milan… Nhưng cô chủ ạ, ngôi sao đẹp nhất trong tất cả những vì sao lại là ngôi sao của chúng tôi, đó là sao Mục đồng (l’Étoile du Berger), nó soi đường cho chúng tôi lùa đàn súc vật ra bãi lúc bình minh và xua chúng về chuồng lúc hoàng hôn. Chúng tôi còn gọi ngôi sao ấy là Maguelonne, nàng Maguelonne xinh đẹp chạy theo chàng Pierre de Provence (Saturne) và cứ bảy năm một lần lại kết hôn với chàng.

– Thế vậy hả ? Lại có chuyện các vì sao cưới hỏi nhau nữa cơ à ?

– Có chứ ạ, thưa cô chủ.

Và trong khi tôi đang cố giải thích cho nàng thế nào là những hôn lễ của các vì sao, thì tôi cảm thấy như có vật gì tươi mát và mịn màng đè nhẹ lên vai tôi. Thì ra đầu nàng, nặng trĩu vì buồn ngủ, đã tựa vào vai tôi với tiếng sột soạt êm ái của những dải đăng ten và mái tóc gợn sóng của nàng. Nàng ngồi yên không nhúc nhích như thế cho đến khi những vì sao bắt đầu lu mờ dần và nhoà đi trong những tia nắng sáng đầu tiên của buổi ban mai. Còn tôi, tôi nhìn nàng ngủ, trong đáy lòng hơi xao xuyến một chút, nhưng vẫn giữ được sự thanh khiết của tâm hồn, vì đêm sao sáng như thế kia bao giờ cũng đem lại cho tôi những ý nghĩ cao đẹp. Chung quanh chúng tôi, ngàn sao vẫn tiếp tục cuộc hành trình thầm lặng, ngoan ngoãn như một đàn cừu vĩ đại ; và đôi lúc tôi có cảm tưởng như một trong những ngôi sao kia, ngôi sao thanh tú nhất, sáng ngời nhất, vì lạc mất đường đã đến tựa vào vai tôi và ngủ giấc yên lành…

(1) – Dịch từ nguyên tác Pháp ngữ “Les Étoiles” (Récit d’un berger provençal), trích từ tác phẩm “Lettres de mon moulin” (Thư viết từ chiếc cối xay của tôi) của Alphonse Daudet (1840-1897). (2) – Luberon : một vùng miền núi không cao, ở gần dãy núi Alpes thuộc nước Pháp. (3) – Chemin de saint Jacques : dải Ngân Hà (la Voie lactée). (4) – Galice : tên một thành phố của Tây Ban Nha. (5) – Sarrasins : tên gọi quân A rập, thời trung cổ, đã xâm lược châu Âu và châu Phi. (6) – Jean de Milan : sao Sirius (Thiên Lang). (7) – La Poussinière (còn gọi là La Pléiade) : sao Rua (Kim Ngưu) tên một chòm sao nhỏ ở bắc bán cầu.

.

Les Étoiles – Alphonse Daudet
YouTube (FR3 Marseille – 1979)

Sur un texte d’Alphonse Daudet – Réalisation : Jacques Ordines
Interprété par Robert Ripa, Cécile Paoli et Marc de Negri

.

ooo000ooo

.

.

LES ÉTOILES (1)
( Récit d’un berger provençal )

par ALPHONSE DAUDET

.

Du temps que je gardais les bêtes sur le Luberon, je restais des semaines entières sans voir âme qui vive, seul dans le pâturage avec mon chien Labri et mes ouailles. De temps en temps l’ermite du Mont-de-l’Ure passait par là pour chercher des simples ou bien j’apercevais la face noire de quelque charbonnier du Piémont ; mais c’étaient des gens naïfs, silencieux à force de solitude, ayant perdu le goût de parler et ne sachant rien de ce qui se disait en bas dans les villages et les villes. Aussi, tous les quinze jours, lorsque j’entendais, sur le chemin qui monte, les sonnailles du mulet de notre ferme m’apportant les provisions de quinzaine, et que je voyais apparaître peu à peu, au-dessus de la côte, la tête éveillée du petit miarro (garçon de ferme), ou la coiffe rousse de la vieille tante Norade, j’étais vraiment bien heureux. Je me faisais raconter les nouvelles du pays d’en bas, les baptêmes, les mariages ; mais ce qui m’intéressait surtout, c’était de savoir ce que devenait la fille de mes maîtres, notre demoiselle Stéphanette, la plus jolie qu’il y eût à dix lieues à la ronde. Sans avoir l’air d’y prendre trop d’intérêt, je m’informais si elle allait beaucoup aux fêtes, aux veillées, s’il lui venait toujours de nouveaux galants ; et à ceux qui me demanderont ce que ces choses-là pouvaient me faire, à moi pauvre berger de la montagne, je répondrai, que j’avais vingt ans et que cette Stéphanette était ce que j’avais vu de plus beau dans ma vie.

Or, un dimanche que j’attendais les vivres de quinzaine, il se trouva qu’ils n’arrivèrent que très tard. Le matin je me disais : “C’est la faute de la grand’messe” puis, vers midi, il vint un gros orage, et je pensai que la mule n’avait pas pu se mettre en route à cause du mauvais état des chemins. Enfin, sur les trois heures, le ciel étant lavé, la montagne luisante d’eau et de soleil, j’entendis parmi l’égouttement des feuilles et le débordement des ruisseaux gonflés, les sonnailles de la mule, aussi gaies, aussi alertes qu’un grand carillon de cloches un jour de Pâques. Mais ce n’était pas le petit miarro, ni la vieille Norade qui la conduisait. C’était… devinez qui ! … notre demoiselle, mes enfants ! notre demoiselle en personne, assise droite entre les sacs d’osier, toute rose de l’air des montagnes et du rafraîchissement de l’orage.

Le petit était malade, tante Norade en vacances chez ses enfants. La belle Stéphanette m’apprit tout ça, en descendant de sa mule, et aussi qu’elle arrivait tard parce qu’elle s’était perdue en route ; mais à la voir si bien endimanchée, avec son ruban à fleurs, sa jupe brillante et ses dentelles, elle avait plutôt l’air de s’être attardée à quelque danse que d’avoir cherché son chemin dans les buissons. Ô la mignonne créature ! Mes yeux ne pouvaient se lasser de la regarder. Il est vrai que je ne l’avais jamais vue de si près. Quelquefois l’hiver, quand les troupeaux étaient descendus dans la plaine et que je rentrais le soir à la ferme pour souper, elle traversait la salle vivement, sans guère parler aux serviteurs, toujours parée et un peu fière… Et maintenant je l’avais là devant moi, rien que pour moi ; n’était-ce pas à en perdre la tête ?

Quand elle eut tiré les provisions du panier, Stéphanette se mit à regarder curieusement autour d’elle. Relevant un peu sa belle jupe du dimanche qui aurait pu s’abîmer, elle entra dans le parc, voulut voir le coin où je couchais, la crèche de paille avec la peau de mouton, ma grande cape accrochée au mur, ma crosse, mon fusil à pierre. Tout cela l’amusait.

– Alors c’est ici que tu vis, mon pauvre berger ? Comme tu dois t’ennuyer d’être toujours seul ! Qu’est-ce que tu fais ? A quoi penses-tu ? …

J’avais envie de répondre : “A vous, maîtresse”, et je n’aurais pas menti ; mais mon trouble était si grand que je ne pouvais pas seulement trouver une parole. Je crois bien qu’elle s’en apercevait, et que la méchante prenait plaisir à redoubler mon embarras avec ses malices :

– Et ta bonne amie, berger, est-ce qu’elle monte te voir quelquefois ? … Ça doit être bien sûr la chèvre d’or, ou cette fée Estérelle qui ne court qu’à la pointe des montagnes…

Et elle-même, en me parlant, avait bien l’air de la fée Estérelle, avec le joli rire de sa tête renversée et sa hâte de s’en aller qui faisait de sa visite une apparition.

– Adieu, berger.

– Salut, maîtresse.

Et la voilà partie, emportant ses corbeilles vides.

Lorsqu’elle disparut dans le sentier en pente, il me semblait que les cailloux, roulant sous les sabots de la mule, me tombaient un à un sur le cœur. Je les entendis longtemps, longtemps ; et jusqu’à la fin du jour je restai comme ensommeillé, n’osant bouger, de peur de faire en aller mon rêve. Vers le soir, comme le fond des vallées commençait à devenir bleu et que les bêtes se serraient en bêlant l’une contre l’autre pour rentrer au parc, j’entendis qu’on m’appelait dans la descente, et je vis paraître notre demoiselle, non plus rieuse ainsi que tout à l’heure, mais tremblante de froid, de peur, de mouillure. Il paraît qu’au bas de la côte elle avait trouvé la Sorgue grossie par la pluie d’orage, et qu’en voulant passer à toute force, elle avait risqué de se noyer. Le terrible, c’est qu’à cette heure de nuit il ne fallait plus songer à retourner à la ferme ; car le chemin par la traverse, notre demoiselle n’aurait jamais su s’y retrouver toute seule, et moi je ne pouvais pas quitter le troupeau. Cette idée de passer la nuit sur la montagne la tourmentait beaucoup, surtout à cause de l’inquiétude des siens. Moi, je la rassurais de mon mieux :

– En juillet, les nuits sont courtes, maîtresse… Ce n’est qu’un mauvais moment.

Et j’allumai vite un grand feu pour sécher ses pieds et sa robe toute trempée de l’eau de la Sorgue. Ensuite j’apportai devant elle du lait, des fromageons ; mais la pauvre petite ne songeait ni à se chauffer, ni à manger, et de voir les grosses larmes qui montaient dans ses yeux, j’avais envie de pleurer, moi aussi.

Cependant la nuit était venue tout à fait. Il ne restait plus sur la crête des montagnes qu’une poussière de soleil, une vapeur de lumière du côté du couchant. Je voulus que notre demoiselle entrât se reposer dans le parc. Ayant étendu sur la paille fraîche une belle peau toute neuve, je lui souhaitai la bonne nuit, et j’allai m’asseoir dehors devant la porte… Dieu m’est témoin que, malgré le feu d’amour qui me brûlait le sang, aucune mauvaise pensée ne me vint ; rien qu’une grande fierté de songer que dans un coin du parc, tout près du troupeau curieux qui la regardait dormir, la fille de mes maîtres – comme une brebis plus précieuse et plus blanche que toutes les autres – reposait, confiée à ma garde. Jamais le ciel ne m’avait paru si profond, les étoiles si brillantes…

Tout à coup, la claire-voie du parc s’ouvrit et la belle Stéphanette parut. Elle ne pouvait pas dormir. Les bêtes faisaient crier la paille en remuant, ou bêlaient dans leurs rêves. Elle aimait mieux venir près du feu. Voyant cela, je lui jetai ma peau de bique sur les épaules, j’activai la flamme, et nous restâmes assis l’un près de l’autre sans parler.

Si vous avez jamais passé la nuit à la belle étoile, vous savez qu’à l’heure où nous dormons, un monde mystérieux s’éveille dans la solitude et le silence. Alors les sources chantent bien plus clair, les étangs allument des petites flammes. Tous les esprits de la montagne vont et viennent librement ; et il y a dans l’air des frôlements, des bruits imperceptibles, comme si l’on entendait les branches grandir, l’herbe pousser. Le jour, c’est la vie des êtres ; mais la nuit, c’est la vie des choses. Quand on n’en a pas l’habitude, ça fait peur… Aussi notre demoiselle était toute frissonnante et se serrait contre moi au moindre bruit. Une fois, un cri long, mélancolique, parti de l’étang qui luisait plus bas, monta vers nous en ondulant. Au même instant une belle étoile filante glissa par-dessus nos têtes dans la même direction, comme si cette plainte que nous venions d’entendre portait une lumière avec elle.

– Qu’est-ce que c’est ? me demanda Stéphanette à voix basse.

– Une âme qui entre en paradis, maîtresse ; et je fis le signe de la croix.

Elle se signa aussi, et resta un moment la tête en l’air, très recueillie. Puis elle me dit :

– C’est donc vrai, berger, que vous êtes sorciers, vous autres ?

– Nullement, notre demoiselle. Mais ici nous vivons plus près des étoiles, et nous savons ce qui s’y passe mieux que des gens de la plaine.

Elle regardait toujours en haut, la tête appuyée dans la main, entourée de la peau de mouton comme un petit pâtre céleste :

– Qu’il y en a ! Que c’est beau ! Jamais je n’en avais tant vu… Est-ce que tu sais leurs noms, berger ?

– Mais oui, maîtresse… Tenez ! juste au-dessus de nous, voilà le Chemin de saint Jacques (la voie lactée). Il va de France droit sur l’Espagne. C’est saint Jacques de Galice qui l’a tracé pour montrer sa route au brave Charlemagne lorsqu’il faisait la guerre aux Sarrasins. Plus loin, vous avez le Char des âmes (la grande Ourse) avec ses quatre essieux resplendissants. Les trois étoiles qui vont devant sont les Trois Bêtes, et cette toute petite contre la troisième c’est le Charretier. Voyez-vous tout autour cette pluie d’étoiles qui tombent ? Ce sont les âmes dont le bon Dieu ne veut pas chez lui… Un peu plus bas, voici le Râteau ou les Trois Rois (Orion). C’est ce qui nous sert d’horloge, à nous autres. Rien qu’en les regardant, je sais maintenant qu’il est minuit passé. Un peu plus bas, toujours vers le midi, brille Jean de Milan, le flambeau des astres (Sirius). Sur cette étoile-là, voici ce que les bergers racontent. Il paraît qu’une nuit Jean de Milan, avec les Trois Rois et la Poussinière (la Pléiade), furent invités à la noce d’une étoile de leurs amies. La Poussinière, plus pressée, partit, dit-on, la première, et prit le chemin haut. Regardez-la, là-haut, tout au fond du ciel. Les Trois Rois coupèrent plus bas et la rattrapèrent ; mais ce paresseux de Jean de Milan, qui avait dormi trop tard, resta tout à fait derrière, et furieux, pour les arrêter, leur jeta son bâton. C’est pourquoi les Trois Rois s’appellent aussi le Bâton de Jean de Milan… Mais la plus belle de toutes les étoiles, maîtresse, c’est la nôtre, c’est l’Étoile du Berger, qui nous éclaire à l’aube quand nous sortons le troupeau, et aussi le soir quand nous le rentrons. Nous la nommons encore Maguelonne, la belle Maguelonne qui court après Pierre de Provence (Saturne) et se marie avec lui tous les sept ans.

– Comment ! berger, il y a donc des mariages d’étoiles ?

– Mais oui, maîtresse.

Et comme j’essayais de lui expliquer ce que c’était que ces mariages, je sentis quelque chose de frais et de fin peser légèrement sur mon épaule. C’était sa tête alourdie de sommeil qui s’appuyait contre moi avec un joli froissement de rubans, de dentelles et de cheveux ondés. Elle resta ainsi sans bouger jusqu’au moment où les astres du ciel pâlirent, effacés par le jour qui montait. Moi, je la regardais dormir, un peu troublé au fond de mon être, mais saintement protégé par cette claire nuit qui ne m’a jamais donné que de belles pensées. Autour de nous, les étoiles continuaient leur marche silencieuse, dociles comme un grand troupeau ; et par moments je me figurais qu’une de ces étoiles, la plus fine, la plus brillante, ayant perdu sa route, était venue se poser sur mon épaule pour dormir…

.

(1) – Extrait des “Lettres de mon Moulin” d’Alphonse Daudet (1840-1897). Ce récit a paru d’abord dans le journal “Le Bien public”, en 1873 (8 avril). Il fut recueilli dans “Robert Helmont” (1874) d’où il fut retiré pour être joint à l’édition définitive des “Lettres de mon Moulin” (1879).

.

Source : art2all.net

.

Catégories
Prose

Trái Vải và Dịch Bịnh Não Trẻ Em ở Nam Châu Á

Ho van Hien (BP65)

.

Trái vải (litchi or lychee)

.

Lời giới thiệu : Tạp chí Y khoa danh tiếng của Anh The Lancet (1,5) vừa công bố một khảo cứu về độc tính tiềm ẩn của trái vải hay lệ chi mà người Việt chúng ta rất ưa thích. Tuy nhiên trong trái vải có chất làm cho lượng đường glucose trong máu giảm xuống. Ở người dinh dưỡng tốt (ví dụ ở Mỹ), ăn vài trái vải cho vui miệng không thành vấn đề. Tuy nhiên ở trẻ em thiếu ăn, ví dụ ở Án độ, Bangladesh, hay miền Đông Bắc Việt Nam, các cháu lượm những trái vải sống, hư hay rơi rụng và ăn rất nhiều vì trái ngọt, chất hypoglycin có thể làm đường trong máu thấp đến mức não bộ thiếu đường để dùng cho năng lượng, các cháu mê man, làm kinh, và có thể chết được. (Mức hypoglycin trong trái vải chín bằng nửa mức trong trái chưa chín).

Trong cả 20 năm nay, tại vùng chung quanh thành phố Muzzafarpur, Ấn độ,nơi sản xuất 70% trái vải của toàn quốc, cứ đến tháng 5 là xuất hiện những bà mẹ đem con đến bịnh viện. Tối hôm trước, đứa bé vẫn mạnh giỏi, sáng sớm chúng khóc thét lên, rồi mê man, co giật. Cứ 100 bé bịnh mỗi năm thì có đến 40 bé tử vong. Nhà đông con, nhưng thường trong một làng chỉ một đứa bịnh. người ta nghi siêu vi do chuột dơi, các con ruồi sandflies truyền bịnh, hay nguyên nhân là do ngộ độc thuốc trừ sâu,những món này đầy rẫy trong vùng sống nhờ trồng cây vải (lệ chi).

Trong 3 năm trở lại đây, các chuyên viên y tế công cọng xét hồ sơ 390 em và nhận xét :

. các em không nóng sốt

. nước tuỷ sống không có dấu hiệu nhiễm vi trùng hay virus (ví dụ bạch cầu không tăng)

. mức đường glucose trong máu thấp

. các em thường nhịn ăn buổi ăn chiều

Các bịnh nhân có triệu chứng giống như trường hợp các bịnh nhân ngộ độc do ăn trái cây ackee còn sống ở Jamaica,trong biển Caribbean, gọi là Jamaican vomiting sickness ; mà người ta đã biết là gây ra do ăn trái ackee sống có chứa chất hypoglycin làm đường glucose trong máu tụt xuống quá thấp. Trái còn non thì chứa nhiều chất độc, trái chín thì không.

Từ đó, người ta tìm thấy cũng chất hypoglycin trong trái vải và thử nước tiểu của các bịnh nhân cũng hiện diện chất này.(4).

Các bà mẹ được dặn phải cho con ăn buổi ăn chiều trước khi đi ngủ và giới hạn lượng trái vải chúng được ăn. Hiện nay số bịnh nhân giảm xuống còn một nửa.

Chuyện này từng xảy ra ở Bắc Giang, Việt Nam (2), nhưng theo bài viết sau đây, những nhà nghiên cứu thường định bịnh là viêm não gây ra do một siêu vi mà chúng ta chưa xác định được (3).

Định bịnh chính xác bịnh não do ăn trái vải có thể giúp giải quyết nhanh chóng, chỉ cần truyền nước có glucose cho bịnh nhân để mức glucose trong máu tăng lên. Định bịnh nhanh chóng bằng cách đo mức đường glucose trong máu (có thể dùng cái máy glucometer nhỏ nhắn của người bị tiểu đường hay dùng).

Trên thực tế, các trẻ nhỏ, nhất là trẻ ốm yếu, thiếu ăn, hay nhịn đói lâu (ví dụ vừa bịnh ói mữa do viêm ruột) không được ăn nhiều các trái cây loại vải, chôm chôm, nhãn (họ soapberry [Sapindaceae],tiếng Anh : lychee (Litchi sinensis), rambutan (Nephelium lappaceum), and longan (Dimocarpus longan). Chúng ta nên để ý vì các trái này ngon và dễ nuốt nên chúng ta dễ bị cám dỗ cho chúng ăn để hy vọng “lấy lại sức”. chúng ta không nên ăn vải ( lệ chi ) quá nhiều lúc đang nhịn đói, nhịn ăn.

Những người bịnh tiểu đường mức đường glucose trong máu có thể lên xuống thất thường do thuốc hạ đường trong máu ; nên tham khảo với bác sĩ của mình nếu thường ăn trái vải, và luôn cà trái nhãn, hay trái chôm chôm, cùng trong gia đình Soapberry.

Tôi xin phỏng dịch bài viết sau đây nói về trái vải ở Á Châu để quý vị tham khảo nếu muốn đi vào chi tiết. về một vấn đề tuy mới nổi lên gần đây, lại có nguy cơ lan rộng vì càng ngày trái cây này càng được phổ biến trong giới trồng trọt cũng như giới tiêu thụ.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

.

Bí Ẩn Độc Tính Trái Vải (Lệ Chi ) Một Quan Tâm Sức Khỏe Mới Nổi Ở Miền Nam Châu Á

Làm thế nào mà trái vải hay lệ chi, một loại trái cây nhiệt đới ngon ngọt, có thể gây ra một bệnh ở não bộ do hạ đường huyết (hypoglycemic encephalopathy) gây tử vong ở trẻ em ? Câu trả lời rất đơn giản : trái vải (Litchi sinensis hoặc Litchi chinensis), và các trái cây khác của gia đình Soapberry (Sapindaceae), có chứa các axit amin (amino-acid) khác thường làm rối loạn cơ chế của cơ thể cung cấp đường glucose theo nhu cầu (gluconeogenesis) và cơ chế dùng năng lượng từ các acid béo bằng cách oxy hoá ( β-oxy hóa acid béo, beta oxidation of fatty acids). Điều này cũng được xác nhận đối với trái vải và đặc biệt đối với một trái cây khác cùng họ hàng, trái ackee (Blighia sapida), một thành viên của nhóm Sapindaceae xuất phát từ Tây Phi Châu và được đem qua trồng vào thế kỷ 18 trong các đảo thuộc vùng biển Caribbean.

Trái cây ackee (Blighia sapida)

Từ mấy chục năm nay, người ta đã biết rằng ăn phải quả ackee còn non gây ra một tình trạng gây độc não bộ do hạ mức đường trong máu (bệnh nôn mữa Jamaica) ở trẻ em. Kiến thức lan truyền chậm chạp đến một số vùng của châu Á, nơi mà cái bịnh được gọi là “bịnh trái vải bí ẩn” đã được giải thích bằng nhiều nguyên nhân khác nhau. Ví dụ người ta giải thích bằng màu trái cây (fruit color), đột quỵ do nhiệt lúc thời tiết nóng (heat stroke) ở bang Bihar, Ấn Độ, hay do một loại thuốc trừ sâu chưa xác định ở phía tây bắc Bangladesh, và ở vùng Đông Bắc Việt Nam thì các nhà khảo cứu nghi một virus nào đó tác dụng trên não bộ nhưng chưa xác định được là virus nào. Tuy nhiên. bệnh tiến triển quá nhanh để giải thích bằng một rối loạn do virus gây ra, với thời gian trung bình là 20 tiếng đồng hồ từ lúc đứa bé đang khoẻ mạnh cho đến khi nó bị chết vì bịnh.

Dữ liệu về độc tính của nhóm trái cây Sapindaceae đã được thiết lập từ lâu từ kinh nghiệm lâm sàng ở châu Phi và vùng Ca-ri-bê là một bài học quan trọng cho sức khỏe toàn cầu và độc chất học thần kinh (neurotoxicology). Một sự hiểu biết trên toàn thế giới về các tác dụng có hại trên hệ thần kinh của các chất tìm thấy trong thiên nhiên cũng như các hóa chất tổng hợp sẽ gia tăng tốc độ chẩn đoán và điều trị các bệnh dịch bí ẩn khác của bệnh não bộ do môi trường (environmental encephalopathy). Tiểu lục địa Ấn Độ không lạ gì với các tác động thần kinh của các chất độc trong thực vật-ví dụ, phụ thuộc vào những thực phẩm như hạt đậu cỏ “grass peas” dẫn đến bịnh yếu hai hạ chi (parapareses trong chứng lathyrism) ; và tuỳ thuộc vào thực phẩm chính là khoai mì (sắn, cassava) gây ra bịnh tê liệt do khoai mì gọi là cassavism. Không giống như các bệnh về thần kinh loại này không thể chữa được nhưng tự giới hạn, bệnh não bộ do trái vải và trái ackee có thể được ngăn chặn bằng cách khôi phục nồng độ glucose trong máu. Tuy nhiên, một số trẻ em được báo cáo bị sa sút về nhận thức, yếu cơ, hoặc rối loạn vận động sau khi bị bịnh ; nguyên nhân cần được điều tra.

Tại sao bịnh não do trái vải lại là một sự kiện tương đối mới xuất hiện ở Ấn Độ, Bangladesh và Việt Nam ? Những lời giải thích hợp lý nhất là việc phát triển nhanh chóng của sản xuất trái vải với mục đích thương mại trên khắp châu Á và cả ngoài châu Á. Sản lượng trái vải của Ấn Độ chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc, xứ nguồn gốc của trái lệ chi (Litchi sinensis) và ở đó các hiệu ứng độc hại tiềm năng của trái vải được ghi nhận trong y văn cổ đại. Hiện nay, một số nước châu Á xuất khẩu vải và các trái Sapindaceae khác, bao gồm chôm chôm (Nephelium lappaceum) và nhãn (Dimocarpus longan) để tiêu thụ ở nước ngoài. Ở Mỹ chẳng hạn, không giống như việc nhập cảng được kiểm soát của quả ackee đóng hộp được kiểm soát, và hàm lượng về hypoglycin của trái này được “screened” (theo dõi và giữ trong một giới hạn nào đó), không có hạn chế cho các trái cây thành viên khác của họ Soapberry, bao gồm cả trái vải. May mắn thay, các loại trái cây nhập khẩu đắt tiền và người tiêu thụ chỉ thường ăn một lượng nhỏ, tình trạng dinh dưỡng của họ cũng tốt (không phải thiếu ăn như những nạn nhân bên Án độ), cho thấy có rất ít lý do để lo ngại về vấn đề này xảy ra ở Mỹ.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn lo lắng để việc bịnh não bộ do đường huyết thấp này không còn bị lầm lẫn với một rối loạn do nhiễm virus, đặc biệt là bệnh viêm não Nhật Bản B (Japanese encephalitis B), cũng như bịnh này sẽ ảnh hưởng đến các khu vực khác của châu Á, nơi sản xuất vải thương mại đang gia tăng và trẻ em suy dinh dưỡng có thể tìm ăn những trái cây rụng, hư, hay non mà người ta bỏ đi vì không bán được. Các vùng cần quan tâm bao gồm tây bắc Bangladesh, miền nam Trung Quốc, phía bắc Ấn Độ, Terai của Trung bộ Nepal, Vùng Tự Trị Codilllera của Philippines, Bắc Thái Lan và Đông Bắc Việt Nam.

Trồng vải cũng đang gia tăng ở miền nam Châu Phi, Australia, và lục địa Mỹ Châu. Trong tương lai, các nhà nghiên cứu cần phải làm việc với các ngành công nghiệp trái vải để xác định mức độ chất axit hạ đường huyết thay đổi như thế nào giữa các giống, đất, khí hậu và điều kiện thu hoạch. Cần những hướng dẫn cho người tiêu dùng, đặc biệt là trẻ em, cũng như người lớn có đặc tính chuyển hóa làm họ dễ mắc bịnh này, hoặc những người ăn trái cây lúc đói bụng. Trong khi tin tức về độc tính tiềm năng (có thể xảy ra) của trái vải có thể được tiếp nhận với một mức chống đối nào đó, điều này có thể biến mất khi ngành công nghiệp được thông báo về các nghiên cứu đang được tiến hành về cách sử dụng các tác nhân hạ mức đường trong máu của trái vải trong cuộc chiến chống lại hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome) và những rối loạn sức khỏe mãn tính liên quan. Trong một bài hát của Jamaica, nơi Blighia sapida (trái ackee) được xem như “trái cây quốc gia” (national fruit) và thường xuyên ăn kèm với cá muối, có câu sau đây : “một ackee một ngày khiến các bác sĩ đi ngay !”. Không chừng, lúc người ta tìm ra được cách dùng tác dụng hạ đường huyết của trái ackee, câu này lại có lý !

Peter S. Spencer. Valerie S Palmer

Bác sĩ Hồ Văn Hiền phỏng dịch.

.

.

1)http://dx.doi.org/10.1016/S2214-109X(17)30046-3

2)Litchi-associated acute encephalitis in children, Northern Vietnam, 2004-2009.

Emerg Infect Dis. 2012 Nov ;18(11):1817-24. doi : 10.3201/eid1811.111761.

3) Probable Toxic Cause for Suspected Lychee-Linked Viral Encephalitis
https://wwwnc.cdc.gov/eid/article/21/5/14-1650_article

4) Litchi Toxin May Have Caused Mysterious Epidemic in India, Inquiry Finds
https://www.nytimes.com/2015/01/31/world/asia/litchi-toxin-may-give-rise-to-mysterious-epidemic-in-india-inquiry-finds.html ?_r=0

5) Association of acute toxic encephalopathy with litchi consumption in an outbreak in Muzaffarpur, India, 2014 : a case-control study
http://www.thelancet.com/journals/langlo/article/PIIS2214-109X(17)30035-9/fulltext ?rss=yes

.

Bác sĩ Hồ Văn Hiền

Ngày 4 tháng 2 năm 2017

.

.

Catégories
Prose

“Cải Tiến Chữ Quốc Ngữ”

Nguyễn Xuân Quang (BP63)

.

Tôi chỉ xin chú trọng góp ý bàn về cách thức cải tiến chữ Quốc ngữ của tác giả Bùi Hiền.

Chữ Quốc ngữ nằm trong hệ thống mẫu tự ABC Latin nhưng rất đặc biệt ‘không giống ai’ vì mang tính đặc thù, sắc thái Việt. Các nhà truyền giáo Tây phương trong đó nhân vật trọng yếu là Alexandre de Rhodes đã làm ra một hệ thống chữ ABC riêng cho Việt Nam dựa vào các qui luật, nguyên tắc dùng ghi âm tiếng nói của hệ thống chữ viết ABC trong đại tộc Latin đã sẵn có. Tiếng Việt có 6 thanh điệu, các nhà truyền giáo đã dùng chữ Latin để ghi âm tiếng Việt nên chữ Quốc ngữ có 5 dấu giọng thể hiện các thanh điệu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Ngoài ra còn có dấu thể hiện các âm đọc của riêng từng mỗi mẫu tự có những âm khác nhau như a có ă, â ; o có ô ơ ; u có ư và d có đ. Nhờ vậy, chữ Quốc ngữ ghi được hầu hết ngữ âm tiếng Việt. Do đó chữ Quốc ngữ mang tính chính xác rất cao so với các chữ viết khác của thế giới và là chữ dễ phổ biến, dễ học.

Như thế một sự cải tiến lý tưởng chữ Quốc ngữ là sự một cải tiến nào đó phải phù hợp với các qui luật ngôn ngữ Việt và Latin thế giới, phù hợp với tiếng Việt, hồn Việt, tâm Việt, văn hóa Việt, sắc thái Việt.

Tiếng Việt có những âm riêng, nhất là thay đổi theo từng địa phương, từng vùng rất đặc thù. Nếu bỏ các âm này thì chữ Việt không còn mang sắc thái Việt nữa. Chữ Quốc ngữ không còn là Chữ (của cả) Nước Việt nữa.

.

Cải Tiến Chữ Quốc Ngữ của Tác Giả Bùi Hiền.

Trước hết tác giả Bùi Hiền vẫn giữ hệ thống mẫu tự ABC. Như thế thì cải tiến của ông bắt buộc phải dựa theo các qui luật ngôn ngữ, phát âm của hệ thống chữ viết ABC Việt và Latin (đã có từ hàng ngàn năm nay).

Tôi chưa được đọc toàn bộ tài liệu giải thích cách Cải Tiến Chữ Quốc Ngữ của tác giả Bùi Hiền, chỉ nhặt được một số dữ kiện trên mạng mà thôi.

(Ảnh : Dân trí)

Xin tóm tắt lại, theo tác giả Bùi Hiền :

Tôi đề xuất bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z. Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể : C = Ch, Tr ; D = Đ ; G = G, Gh ; F = Ph ; K = C, Q, K ; Q = Ng, Ngh ; R = R ; S = S ; X = Kh ; W =Th ; Z = d, gi, r. Vì âm “nhờ” (nh) chưa có kí tự mới thay thế nên tạm thời dùng kí tự ghép “n’” để biểu đạt’.

Tác giả Bùi Hiền cho rằng cách cải tiến chữ Quốc ngữ của ông nhằm mục đích ‘giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư…giúp giảm tiền bạc xuống 8%’ trong một trang giấy’.

Bây giờ ta hãy đi vào chi tiết cải tiến của từng chữ cái một :

C = Ch, Tr

Tác giả Bùi Hiền dùng C thay cả cho Ch và Tr, loại bỏ chữ Ch, Tr. Chữ Hán không có âm Tr.

Ta thấy âm chữ Hán hiện đại chỉ có âm Ch. Âm này bằng âm Hán Việt Tr. Như :

長 /Cháng/ = Hán Việt Trường, dài.

悵 /Chàng/ = Hán Việt Trướng, buồn bã.

池 /Chí/ Hán Việt Trì, ao.

Chữ cái C, Ch, Tr ta có ba âm khác nhau. Ví dụ : C trong Co (co quắp), Ch trong Cho (cho quà) và Tr trong Tro (tro than). Bây giờ thay C cho Ch và Tr và chỉ còn một chữ Co thì dựa vào mấu hốt nào để biết ngay tức khắc khi nào Co là Co quắp, khi nào Co là Cho, khi nào Co là Tro. Khi nhìn C, Ch và Tr là nhận biết ngay lập tức phát âm như thế nào và có nghĩa ra sao. Rất giản dị và chính xác. Còn C= Ch = Tr rất phức tạp. Ta rơi vào trường hợp một âm có nhiều nghĩa. Phải vận dụng đầu óc tìm tòi. Zắc Zối cuộc đời.

Một chữ ghi ba âm không còn đơn giản, trong sáng nữa.

Tiếng Việt mất hai âm Ch, Tr và mất địa phương tính, vùng tính.

Tác giả Bùi Hiền theo âm chữ Hán không có âm Tr nên bỏ Tr tức Hán hóa chữ Việt.

D = Z

Ví dụ Dục thành Zụk, Giáo Dục thành Giáo Zụk. Trong mẫu tự ABC Việt ngữ hiện nay không có Z.

Trường hợp này tác giả Bùi Hiền dựa theo cách pinyin Trung Quốc.

Tài liệu trên mạng không rõ nguồn.

Ông Hồ Chí Minh cũng đã dùng chữ Z thay cho chữ D, ông Hồ viết Nhân Dân thành Nhân Zân.

Ở đây nói lơ lớ ngọng ba Tầu.

Tác giả Bùi Hiền muốn Hán hóa chữ và tiếng Việt. Người Việt sẽ nói lơ lớ hay ngọng như người Trung Quốc nói tiếng Việt hiện nay.

Đ = D

Tôi đề xuất bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành’.

Tác giả Bùi Hiền cũng theo pinyin Trung Quốc bỏ chữ đ này. Chữ Hán phiên âm bằng Latin theo âm Hán hiện đại không có chữ đ.

Như thế nếu bỏ đi chỉ còn d thay cho đ ta lại phải chọn phát âm lúc thì âm đ lúc thì âm d. Ví dụ Za (cây) người Bắc phải chọn phát âm cây Đa, người Trung, Nam chọn phát âm cây Da.

Trường hợp không có đ này cũng giống như trong mẫu tự Anh, Pháp, Ý… Các tộc này thường phát âm D là Đ như Anh ngữ Day phát âm là /đây/. Còn D có khi dùng J thay thế như xe Jeep phát âm là /Dip/, /Zip/ hoặc /Dep/, /Zep/.

Theo tôi chữ Đ, đ là một nét đặc thù trong chữ Việt. Hầu hết các mẫu tự ABC của dòng Latin không có chữ Đ, ngoại trừ thấy rất ít trong chữ ABC của một vài nước như trong mẫu tự Bồ Đào Nha. Các nhà làm ra chữ Quốc ngữ đã lấy chữ Đ, đ này của Bồ Đào Nha đem vào tiếng Việt. Vì sao ? Vì mục đích chính là phân biệt ngay khi nào thì d phát âm theo d khi nào thì phát âm theo đ không phải bận tậm suy nghĩ gì như khi chỉ có một chữ d thôi, làm cho tiếng Việt dễ học, đơn giản, nói thế nào thì có thể viết đúng như thế và ngược lại viết thế nào thì có thể đọc, nói đúng như thế.

Đây là một chữ cái mang tính đặc thù Việt và hữu dụng giúp chữ quốc ngữ chính xác hơn, dễ đọc, dễ học hơn các chữ viết khác không có chữ đ. Không nên bỏ đi.

G = G = Gh

Biến âm này có trong Việt ngữ. Ví dụ gành = ghềnh ; gác = ghếch ; gảnh = ghểnh (đánh cờ)…

Chữ Hán không có Gh nên ông bỏ Gh đi.

F = Ph

Tác giả Bùi Hiền muốn đổi f = ph theo pinyin Trung Quốc. Chữ Hán phiên âm bằng Latin theo âm Hán hiện đại không có Ph chỉ có F nên ông bỏ Ph dùng F. Ông muốn Hán hóa chữ Việt (hơn là Tây phương hóa).

Thật ra chữ Ph tương đương với f là chuyện ai cũng đã biết. Trước đây đã có người đề nghị thay ph bằng f. Điểm này không trở ngại gì mà tiết kiệm được một chữ h. Tuy nhiên Ph cũng là một nét đặc thù của chữ viết Việt Nam nên giữ lại dù có tốn kém tí công tí mực. Đây là lý do những người muốn đổi ph = f trong đó có ông Hồ Chí Minh đã thất bại.

K = C = Q = K

C = K không trở ngại gì. Một số quốc gia phương Tây dùng K thay cho C. Ông Hồ Chí Minh cũng đã dùng chữ K thay cho chữ C, ông Hồ viết Kách Mạng thay vì Cách Mạng.

Nhưng K = Q là chuyển âm khá phổ thông giữa chữ Hán phiên âm bằng Latin theo âm Hán hiện đại và Hán Việt ví dụ như /qílin/ = kỳ lân.

Tác giả Bùi Hiền cho C = Q = K là dựa theo âm K Hán ngữ.

M

Giữ nguyên như cũ.

N

Giữ nguyên như cũ.

Ng = Ngh = Q

. Ng = Q

Tiếng Việt = Tiếq Việt.

Chuyển âm Ng = Q này không thấy có trong tiếng Việt. Nhưng có biến âm Ng = Ngh = K. ví dụ như Mường ngữ K = Việt ngữ Ng : kuôi, kom, kươi = người, kơng, keng = ngẩng, ken = nghẹn… (Diệu Tần, Sơ Lược Về Ngôn Ngữ, San Jose, CA 2.000).

Theo Trung Quốc tác giả Bùi Hiền thay K = Q (xem dưới) nên Ng = K = Q.

. Ngh = Q

Chuyển âm này thấy qua trung gian n không trực tiếp ví dụ con nghê và con kì.

麑 /ní/, nghê.

1 : Con hươu con.

2 : Cùng nghĩa với chữ nghê 猊. Toan nghê 狻麑 là con sư sử.

麒 /ní/, kì.

Kì lân 麒麟 ngày xưa gọi là giống thú nhân đức. Con đực gọi là kì, con cái gọi là lân (http://www.vietnamtudien.org/thieuchuu/).

Việt ngữ gọi con nghê là con kì (thường nói chung là kì lân), vì nghê và kì đều phát âm /ní/ theo phát âm Hán ngữ hiện đại. Ta có nghê = kì tức Ngh = K.

Biến âm này có trong Việt ngữ như nghều = kều (cao) ; nghẹt = kẹt (mũi) ; nghịt = kịt…

Như thế Ng = Ngh = Q cũng dây mơ rễ mái với Hán ngữ.

Nh = N’

Tác giả Bùi Hiền cho rằng : ‘Vì âm “nhờ” (nh) chưa có kí tự mới thay thế nên trong bản trên tạm thời dùng kí tự ghép N’ để biểu đạt’.

Tôi đề nghị có thể lấy mẫu tự N có dấu ngã ở trên Ñ, ñ của mẫu tự ABC Tây Ban Nha : Ñ = Nh. Mẫu tự này đã có sẵn không làm mọi người thắc mắc hay khó hiểu. Ñ coi như một chữ đơn nên thảo chương (program) trong vi tính chỉ phải đánh chữ có một lần, còn dùng N’ như của tác giả Bùi Hiền thì phải đánh chữ hai lần. Tốn thì giờ và tốn mực hơn.

Q = Ng, Ngh

Đã nói ở trên.

R = R

Vẫn giữ nguyên.

X = Kh

Tại sao tác giả Bùi Hiền lại cho X = Kh nhỉ ? Eureka ! Tôi đã tìm ra ! Ông đã ‘cuỗm’ mẫu tự X = Kh này của chữ viết Cyrillic, ngày nay dùng ở Nga và Đông Âu.

Chữ Cyrillic phát triển ra từ chữ Hy Lạp vào khoảng năm 900 (Sau Dương Lịch) bởi St Cyril và St Methodius. Chữ X của Hy Lạp phát âm là Chi nên các vị Thánh này biến Chi thành Kh (Ch = Kh = X).

Tác giả Bùi Hiền lại muốn Nga hóa chữ Quốc ngữ, Nga hóa người Việt nói ngọng theo giọng Nga ?

Ông quả thật là giỏi cóp nhặt của Tầu, của Nga để làm ra chữ Quốc ngữ mới.

W = Th

Sự thay thế này ai cũng cho là quái lạ. Nhưng với tôi chẳng lạ chút nào ! Đây là cách phát âm w = th thấy rõ trong tiếng Gwóngdōngwá = 廣東話 = Quảng Đông thoại (Wikipedia) ví dụ như tìnwá = điện thoại.

Rõ như ban ngày wá = thoại tức ta có w = th.

Tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây nguyên trước kia là đất của Bách Việt. Ngày nay còn gọi hai tỉnh này là Lưỡng Việt.

Tác giả Bùi Hiền dùng chuyển âm này làm phương tiện hữu hiệu để Hán hóa chữ Việt, người Việt qua Bách Việt ?

Z = d, gi, r

Z = d

Đã nói ở trên.

Z = gi

Alexandre de Rhodes dùng Gi thay cho J trong chữ Việt cổ ví dụ như Jà = già ; jó = gió ; jờ = giờ. . . (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhodes). Nếu tác giả Bùi Hiền dùng Z = gi mà còn dùng J nữa sẽ bị các âm chồng chéo lên nhau.

Chữ Hán phiên âm bằng Latin theo âm Hán hiện đại không có âm Gi. Việt ngữ có biến âm với gi = d tùy theo vùng miền như dàn = giàn ; dăng = giăng ; duộc = giuộc (thuộc, cái múc dầu)… Tác giả Bùi Hiền lấy âm Hà Nội làm chuẩn chắc chọn Gi = D nên mới có Gi = D = Z.

Chữ Hán phiên âm bằng Latin theo âm Hán hiện đại không có âm Gi nên ông lấy Z của Hán ngữ thay cho Gi Việt ngữ.

Z = r

Việt ngữ cũng có biến âm d = r như dắn = rắn ; dàn = ràn ; dựt = rựt… Tác giả Bùi Hiền lấy âm Hà Nội làm chuẩn chắc chọn D = r nên mới có Z = D = r. Người Trung Quốc thường phát âm r là nh như /rén/ là Hán Việt nhân (người), /rì/ là Hán Việt nhật (ngày), /ròu/ là Hán Việt nhục (thịt)… nhưng họa hoằn cũng phát âm r là D như 容 /róng/ là Hán Việt dong, dung (bao dong, bao dung).

Như thế ta có Z = D = r.

Như đã nói ở trên dùng Z là theo ghi âm chữ Hán.

Cũng nên nói thêm là ở đây Z= r (chữ r thường không viết hoa) như thế phải phân biệt Z (= r) với R viết hoa. Thật là phiền phức.

Bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z’.

Tác giả Bùi Hiền : “bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z” mới nhìn qua chúng ta và nhất là người Tây phương, lầm tưởng là Tây phương hóa chữ Việt, nhưng thật ra là Hán hóa. Những chữ này đều dùng trong pinyin của Trung Quốc. Ông cải tiến chữ Quốc ngữ theo cách pinyin Trung Quốc.

.

NHỮNG TAI HỌA CỦA CẢI CÁCH CHỮ QUỐC NGỮ CỦA TÁC GIẢ BÙI HIỀN

. Hán hóa chữ Việt

Sự cải tiến chữ Việt của ông Bùi Hiền biến chữ Quốc ngữ thành một con quái vật, không những chỉ có đầu Ngô mình Sở mà có đầu Hán, thân người cũng Hán, đít là Nga, tay là Quảng Đông, chân là Tây phương và đuôi là Việt Nam. Rõ ràng nó mang nặng tính Hán hóa không chối cãi vào đâu được.

Căn bản cách cải tiến chữ Quốc ngữ của tác giả Bùi Hiền là dựa vào Hán hóa chữ Việt, không phù hợp với các qui luật ngôn ngữ Việt.

Những âm đặc biệt của chữ Quốc ngữ mà chữ Hán không có như Tr, Gi… giúp chữ Việt khác chữ Hán, ông bỏ đi cho chữ Việt giống chữ Hán, tiếng Hán.

. Biến người Việt thành một dân tộc nói đớt, nói lơ lớ, nói trọ trẹ, nói ngọng như người Trung Quốc nói tiếng Việt chuẩn ngày nay.

. Cho rằng giúp người ngoại quốc dễ học. Có lẽ chỉ giúp người Trung Quốc hay Nga dễ học tiếng Việt thôi.

. Làm mất các nét đặc thù của chữ Việt, mất dân tộc tính Việt, mất căn cước, bản sắc Việt (như bỏ đ, ph, tr… đi), làm mất hồn Việt, tâm Việt, văn hóa Việt.

. Tách chữ Quốc ngữ ra khỏi dòng chữ Latin thế giới, làm trở ngại cho sự nghiên cứu tiếng Việt của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và ngoại quốc qua cách dựa vào sự đối chiếu chữ Quốc ngữ với chữ viết, ngôn ngữ loài người, nhất là với Ngôn Ngữ Ấn Âu. Ví dụ : there, đấy, đó, kia, tê, đằng ấy, đằng đó. Ta có there biến âm với tê, phương ngữ Huế (ngoài tê = over there). Nếu viết theo tác giả Bùi Hiền thì There là Were, không có cách nào thấy được there có mặt chữ giống như tê được. Anh ngữ throne, Pháp ngữ trône, Nga ngữ tron, ngai, ngôi. Ta thấy tron- = Việt ngữ trôn (đít), chỗ để ngồi, bán trôn nuôi miệng. Rõ ràng throne, trône, tron biến âm với Việt ngữ trôn. Nếu viết theo tác giả Bùi Hiền là Won thì không có cách nào thấy được throne, trône, tron giống như trôn được. Anh ngữ thrust, đẩy, xô, thúc, thọc vào, đâm bằng vật nhọn, động tác làm tình của phái nam. Th(r)ust biến âm với Việt ngữ thục, thúc, thọc. Theo th = đ, thrust = đục, đụ (đụ là do đục cắt bỏ c, Tiếng Việt Huyền Diệu). Nếu viết theo tác giả Bùi Hiền là Wust thì không có cách nào thấy được thrust có mặt chữ giống như thục, thúc, thọc được… Tôi đã tìm được sự Liên Hệ Giữa Việt Ngữ và Ấn-Âu Ngữ qua chữ viết Quốc ngữ hiện nay một cách dễ dàng (xem Liên Hệ Việt Ngữ và Ấn Âu Ngữ trên blog của tôi).

. Chữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền hiển nhiên làm cho người ngoại quốc có chữ viết của họ thuộc dòng Latin khó học chữ Việt vì không còn tương đồng cách viết với chữ nước họ.

. Chữ viết gắn liền với tiếng nói, ngôn ngữ liên quan với văn hóa. Phá hỏng chữ Quốc ngữ, Hán hóa, ngoại bang hóa làm mất gia tài văn hóa, nguồn cội Việt, hồn Việt. Mất chữ Việt làm mất tiếng Việt không khó. Mất tiếng Việt là mất nước. ‘Tiếng Việt còn nước Việt còn’ (Phạm Quỳnh). Các lớp trẻ khởi đầu học chữ cải cách của tác giả Bùi Hiền phải học lại chữ hiện nay mới đọc được sách ‘cổ” tạo ra những thế hệ mất gốc Việt và dễ bị đồng hóa.

. Gây xáo trộn tâm lý, đời sống tinh thần và xã hội của thế hệ đang dùng hệ thống chữ ABC hiện nay. Có thể đưa tới hỗn loạn.

. Chữ quốc ngữ hiện nay phản ánh tiếng nói ba miền Bắc, Trung, Nam. Ông Bùi Hiền qui về tiếng nói Hà Nội dẹp bỏ đi hết các chữ diễn tả các âm của vùng khác làm phân hóa dân tộc, nghèo nàn tiếng nói đi. Tiếng Việt Nam chỉ còn là tiếng ‘nước Hà Nội’, không còn là ‘Quốc ngữ’, chữ của quốc gia Việt Nam gồm cả ba miền.

.

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA CẢI TIẾN CHỮ QUỐC NGỮ CỦA TÁC GIẢ BÙI HIỀN

Như đã nói ở trên tác giả Bùi Hiền cho rằng cách cải tiến chữ Quốc ngữ của ông nhằm mục đích ‘giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư…giúp giảm tiền bạc xuống 8% trong một trang giấy’.

Những điểm phân tích đã nói ở trên cho thấy những điều ông nêu ra không đạt được mà ngược lại còn làm cho chữ Việt mới của ông bất tiện, rườm ra, phức tạp, khó học, khó nhớ, khó sử dụng hơn. Nhưng quan trọng nhất là cái đại họa bị Hán hóa, mất hồn Việt, sắc thái Việt, văn hóa. Việt Nam bị Trung Quốc đồng hóa…

Còn tiết kiệm thời giờ và tiền bạc 8% trong một trang giấy cũng chưa chắc đã có được hay có đáng để đổi lấy những đại họa nghiêm trọng mà nó gây ra không ?

Nếu muốn tiết kiệm thời giờ và tiền bạc ta có thể giản dị hóa chữ Quốc ngữ bằng nhiều cách khác. Tôi xin đề nghị một hai cách.

.

CẢI TIẾN CHỮ VIỆT CỦA TÔI

Chỉ nhằm mục đích làm đơn giản, ngắn gọn, để tiết kiệm thời giờ và tiền bạc mà tránh được các khiếm khuyết và tai họa nêu trên tôi xin đưa ra một hai cách cải tiến chữ Quốc ngữ dựa trên các nguyên tắc căn bản của ngôn ngữ học :

1. Vẫn giữ y nguyên hệ thống mẫu tự ABC hiện nay theo dòng chính Latin nói riêng, của ngôn ngữ loài người nói chung, không thay đổi gì về các qui tắc căn bản của ngôn ngữ học.

Chỉ thay đổi hình dạng mẫu tự một chút mà không làm mất mặt chữ hoặc chỉ thêm các dấu chỉ định biến âm nên vẫn còn nhận diện ngay được mẫu tự đó trong nháy mắt.

2. Vẫn duy trì đặc tính, căn cước Việt của chữ Quốc ngữ Việt Nam. Không Hán hóa chữ Việt bằng cách dùng cách biến âm theo pinyin của Trung Quốc qua các mẫu tự chỉ có trong mẫu tự Tây phương như F, J, W, Z.

3. Để tránh cắt bỏ đi mất quá khứ Việt, văn hóa, truyền thống cổ Việt đưa đến diệt vong.

4. Chỉ cải tiến mẫu tự kép.

Tôi vẫn giữ y nguyên hệ thống chữ Quốc ngữ hiện nay, chỉ cải tiến các chữ cái kép hay ghép nhằm mục đích đơn giản xuống còn một chữ để giảm thời gian và giấy mực.

A. Cách Thứ Nhất

Vẫn giữ y nguyên hệ thống ABC hiện hành của chữ Quốc Ngữ chỉ thay đổi biến các chữ kép (phải đánh chữ hai lần) hay ghép (phải đánh chữ ba lần) thành một chữ, chỉ cần đánh chữ một lần. Ví dụ Ch, Tr, Đ, Gh, Gi, Kh, Ng, Ngh, Nh, Ph, Qu, Th thảo chương vi tính thành một đơn vị chỉ cần đánh chữ một lần. Gõ một lần nhẩy ra Ch chẳng hạn.

Cách này đánh chữ kép, ghép chỉ một lần. Tiết kiệm thời gian mà không gây xáo trộn gì.

Cách này có khuyết điểm là viết tay vẫn như cũ.

B. Cách Thứ Hai

Cách này thay đổi chữ kép hay ghép thành một chữ cái mới mà vẫn giữ nguyên hình chữ cũ. Cách này có thể viết tay và đánh chữ.

* C vẫn giữ nguyên.

* Ch

Có ba cách :

. Hoặc biến dạng chữ C đi như đầu trên chữ C cong quặp vào như móc câu liêm chẳng hạn. C móc câu liêm = Ch. Phát âm là /chờ/.

Các này có thể viết tay và muốn đánh chữ thì thảo chương (progam) trong vi tính và cũng chỉ đánh một lần. Tiết kiệm thời gian và giấy mực.

. Hoặc thêm một dấu phẩy trên (apostrophe) như C’, ta có C’ = Ch.

Cách này viết tay vẫn phải cần hai động tác nhưng dấu phẩy ít tốn mực hơn chữ h. Còn program được thành một chữ C’ hay Ć (đã có sẵn như thấy trong font Verdana) thì đánh chữ chỉ còn một lần.

. Hoặc dùng mẫu tự Ĉ, ĉ (có sẵn trong font Verdana) = Ch.

Cách này dễ dàng cho việc thảo chương.

Các cách này dễ phân biệt được ngay C và Ć hay Ĉ (Ch) mà vẫn duy trì được cả âm Ch của các vùng địa phương.

* D và Đ

Vẫn giữ như cũ. Phân biệt được hai âm d và đ ngay tức khắc và đ là một nét đặc thù trong chữ Việt mà chỉ thấy trong chữ viết của Bồ Đào Nha mới có chữ Đ.

* G, Gi, Gh

Tương tự :

G = Gi

. Biến đổi hình dạng G một chút thay cho Gi. Như G đầu có móc câu liêm chẳng hạn.

. Thay G có dấu chấm i ở trên Ġ, ġ (có trong font Verdana) cho gi.

G = Gh

Gh thay đổi hình dạng của G hay Ĝ, ĝ thay cho Gh.

* K

Giữ nguyên như cũ vì dùng trước i, e. Đây cũng là một nét đặc thù của chữ Việt.

* Kh

Biến đổi hình dạng K một chút hay K’thay cho Kh. Thảo chương K’ thành một chữ.

* L

Giữ nguyên như cũ.

* M

Giữ nguyên như cũ.

* N

Giữ nguyên như cũ.

* Ng

Nếu muốn thay Ng hằng chữ N có chấm hay phẩy ở dưới Ņ ņ (vì chữ g có phần thòng xuống dưới nên chọn dấu phẩy để ở dưới).

* Nh

. Biến đổi hình dạng N một chút hay Ń, ń thay cho Nh (vì chữ h có phần cao lên nên chọn dấu phẩy để ở trên).

Cách này viết tay và thảo chương được.

. Lấy Ñ, ñ trong mẫu tự Tây Ban Nha.

Ngoài ra, như đã nói ở trên có thể lấy N có dấu ngã Ñ, ñ trong mẫu tự Tây Ban Nha thay cho Nh. Nếu lấy mẫu tự này ta cắt giảm bớt đi được một chữ h. Mẫu tự này đã có sẵn coi như một chữ đơn nên thảo chương trong vi tính dễ còn N’ phải đánh hai lần ngoại trừ thảo chương thành một chữ.

* Q, Qu

Qu = Q’

* R

Vẫn giữ nguyên.

* S

Vẫn giữ nguyên.

* X

Vẫn giữ nguyên.

* T

Vẫn giữ nguyên.

* Th

Có thể thay thế bằng T’, ť (font có sẵn như trong Verdana).

* Tr

Thêm hai dấu phẩy như dấu ngoặc kép vào T, ta có T” = Tr.

* V

Vẫn giữ nguyên.

* X

Vẫn giữ nguyên.

* Y

Vẫn giữ nguyên.

Tóm lại các cách cải tiến này nếu được thảo chương đánh chữ chỉ một lần. Tiết kiệm thời gian và giấy mực mà không gây xáo trộn gì.

. Ghi Chú

Nếu muốn tránh mang tiếng ngoại quốc hóa và sợ người ngoại quốc nhầm lẫn với các chữ cái của nước họ vì dùng các mẫu tự sẵn có như Ĉ, ĉ, Ġ, ġ, Ĝ, ĝ, ť thì các phần dấu thêm vào C để thành Ch, vào G để thành Gi, Gh, vào N để thành Ng, Nh, Ngh, vào Q thành Qu, vào T để thành Th, Tr có thể dùng bất cứ dấu nào thấy thích hợp và dễ nhớ cũng được nhưng phải thảo chương thành một chữ đơn có dấu.

Tôi đề nghị các dạng trên chỉ để làm ví dụ.

.

. KẾT LUẬN

Tóm lại chữ Quốc ngữ hiện nay đã ghi được hầu hết ngữ âm tiếng Việt, đã đáp ứng được nhu cầu tiếng nói Việt. Chữ Quốc ngữ rất chính xác, dễ học, dễ nhớ, dễ viết, dễ dùng. Chữ Quốc ngữ mang sắc thái Việt, tâm hồn Việt…

Chữ quốc ngữ vì mang tính đặc thù, sắc thái Việt nên ‘không giống ai’, trông có vẻ ‘loạn chữ’ (danh từ của tác giả Bùi Hiền) hay còn một vài không hợp lý nhỏ. Nếu muốn gọn lại, nhất là chỉ nhằm mục đích làm gọn, tiết kiệm thời giờ và tiền bạc, chúng ta chỉ cần giữ nguyên bộ chữ Quốc ngữ hiện nay rồi thảo chương các chữ kép, chữ ghép lại thành một đơn vị gõ chữ hay cắt tỉa bớt, xén bớt chữ kép, chữ ghép lại thành một chữ đơn có dấu như cách cải tiến của tôi mà không gây xáo trộn gì.

Chữ Quốc ngữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền mang nặng tính Hán hóa, Nga hóa chữ Việt. Nếu thành hình là một đại họa cho dân tộc Việt Nam.

Có một điều rất lạ là tại phiên họp Chính phủ thường kỳ, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam khẳng định, Chính phủ và bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chưa có chủ trương cải tiến chữ Quốc ngữ. Tác giả Bùi Hiền nói là “Tôi mới nghiên cứu xong một nửa… (còn nửa phần nguyên âm nữa -ghi chú của tác giả-) Nghiên cứu này của tôi hoàn toàn mới chỉ nằm ở bên lề một hội thảo khoa học, tôi chưa trình bộ GD&ĐT… (www.24h.com.vn).

Vậy mà sách giáo khoa dành cho lớp 1 đầu tiên đã phát hành dưới danh hiệu Bộ Záo Zục và Đào Tạo.

Tiếq Việt tập 1 của Bộ Záo Zụk và Đào Tạo (Hình trên mạng không rõ nguồn).

Lạ nhỉ ! Chỉ có ở Việt Nam ta mới có chuyện lạ như thế này !

Hy vọng quyển sách này không có thật !

.

Xin hồn thiêng sông núi Việt, tổ tiên Rồng Tiên phù trợ cho chữ Quốc ngữ Việt Nam, cho Tiếng Việt, cho dân tộc Việt, cho đất nước Việt Nam.

.

.


.
Bổ túc :

(Trích Thanhnien.vn)

“Một ví dụ PGS-TS Bùi Hiền đưa ra được viết bằng 2 kiểu chữ hiện thời và cải tiến

LUẬT GIÁO DỤC

Điều 7. Ngôn ngữ dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác ; dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số ; dạy ngoại ngữ.

1. Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục, Thủ tướng chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

LUẬT ZÁO ZỤK Diều 7. Qôn qữ zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák ; zạy và họk tiếq nói, cữ viết kủa zân tộk wiểu số ; zạy qoại qữ.

1. Tiếq Việt là qôn qữ cín’ wứk zùq coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák. Kăn kứ vào mụk tiêu záo zụk và yêu kầu kụ wể về nội zuq záo zụk, Wủ tướq cín’ fủ kuy dịn’ việk zạy và họk bằq tiếq nướk qoài coq n’à cườq và kơ sở záo zụk xák.
… “

.

.

Catégories
Prose

De la Poésie

À mes Anciens du Collège Francais de Tourane
Lưu Nguyễn Đạt

.

nuitée améthyste, oil enamel, luu nguyen dat – 2007

.

Parler de la poésie, c’est la revivre intensément par les sentiments partagés à son approche. Poésie de coeur, joie et peine, elle s’infiltre dans la vie et celle-ci la dédouble comme la rivière reflète le sourire, et l’haleine se dilue aux vagues évanescentes.

Par la poésie, l’océan change de couleurs, mystiques, impalpables, dans la vision et l’âme mises en abyme[1] du poète. Ainsi se révèle l’amour, en son langage secret, métamorphosant la poésie en lumière merveilleuse d’aurores atemporelles, antérieures et futures, entre le dernier rayon de soleil et l’étincelle nocturne, quand la nature se fige de silence et que les mots ineffables s’immolent en leur langueur originelle.

La poésie parfois s’avère exigeante. Elle réclame la vie entière et demande que la rivière rejoigne l’océan ou pourquoi l’inspiration se tarit à fleur d’amour. Elle réclame la rosée des nuages et la foi de l’amour humain, au niveau des joies et des douleurs universelles. Elle est le premier cri de vie et la voix de la conscience engagée et celle de la passion intarissable.

Spéculaire et décentrée, la poésie se transforme en symboles et incantations, métaphores et séduction ; en miel et épices, tendresse et cruauté ; en ivresse immense et dénuement minime. Signifiante, elle est réelle et abstraite, inondée de signes et d’absences, de liens et d’écarts. Le poète s’éprend des mots à fleur de vie, entière et inachevée, à dimensions multiples, à mi-chemin entre l’absolu et le relatif.

La poésie se fait corporelle, en même temps élan de vie. Elle est galanterie amoureuse et turbulence enfantine, comme le sang qui coule et la peau qui se déchire. Elle lutte pour sa propre existence, spirituellement puissante lorsque extraordinaire, mais aussitôt anémique car incapable d’ordre et de calcul réels. Périssable dans sa propre immortalité de création et de légende, elle existe et périt en dehors des conventions sociales, au-delà des formalités académiques. La poésie flotte à fleur d’eau et se noie dans ses propres vagues qui se creusent en abysses, au sein même de chaque cellule existentielle, gouttelette d’amour, ou larme vécue.

La poésie s’assume en questions ouvertes, sans en pouvoir donner de réponse directe, ni d’interprétation satisfaisante. Vague, sans limite, elle s’exprime pour se recomposer en devise occulte et déjà prophétique :

si toutes les rivières sont douces
d’où vient le sel de l’océan ?

if all rivers are sweet
where does the sea get its salt ?[2]

La poésie et sa signification béante parfois se tendent la main pour révéler un pacte écrit à l’encre sympathique, d’intimité voilée d’innocence scrupuleuse, ou de sagesse branlante, comme une réalité multiple aux termes de sa propre déconstruction :

quelle distance sépare la lune
du clair de lune ?

how far is the light of the moon
from the moon ? [3]

La parole poétique ainsi se suspend à l’ombre d’un sourire de sable, enfoui dans son propre désert de silence. Elle se dévide parfois de la présence humaine pour se métamorphoser en forêts et fleurs pétrifiées, en racines du ciel ou sources cristallisées. Le poète alors isolé dans son voyage terrestre, muet de terreur et d’angoisse, reprend le chemin de retour à la création originelle, et de là, raccourcit la voie vers l’inconnu et le sacré, dont les bornes indicatrices ont l’allure de météores brillants, ou de pierres précieuses, extraordinaires et caressantes :

quand tu touches la topaze
la topaze te caresse

When you touch topaz
topaz touches you [4]

La poésie a donc son propre univers, celui de l’âme humaine en cours de réincarnation aux confins de la création universelle, à l’encontre des limites de la parole pratique et conventionnelle, par delà la réminiscence des mythes anciens et de l’oubli collectif. La poésie, ouvrant la voie vers l’immensité du vide et vers la foi béante de la quête sans fin, se creuse en profondeurs multiples pour retrouver la source vitale et l’origine du temps et de l’espace. Elle est déjà l’espérance au sein même du désespoir.

La poésie est ainsi l’initiation vers l’essence et la réalité unique de la condition humaine.

Luu Nguyen Đat, PhD, LLB/JD, LLM

.

[1] D’après André Gide, effet de miroir, spécularité, récit au second degré. Réduplicatin intérieure, spéculaire… Une mise en abyme désigne l’enchâssement d’un récit dans un autre récit, d’une scène de théâtre dans une autre scène de théâtre (théâtre dans le théâtre), ou encore d’un tableau dans un tableau.

[2] Pablo Neruda, The Book of Questions, (El libro de las preguntas), Copper Canon Press : Port Towsend, 1991.

[3] Pablo Neruda, The Book of Questions, (El libro de las preguntas), Copper Canon Press : Port Towsend, 1991

[4] Pablo Neruda, Stones of The Sky, (Las pierdas del cielo), Copper Canon Press : Port Towsend, 1987.

.

.

.

.

.

NÓI VỀ THƠ
http://www.blaisepascaldanang.fr/spip/article.php3 ?id_article=583 .

Catégories
Prose

Artisan-créateur de rêve

Hoàng Ðình Tuyên BP63

.

Le temps passe. Les souvenirs s’estompent, laissant une philosophie de la vie qui évolue avec le temps et les expériences.

Dans les années 59-60 les jeunes étaient attirés par la nouvelle vague venue de l’Europe et des USA. La belle Brigitte Bardot portait le flambeau de la beauté. Après “The King “, nous avions notre Elvis Phuong, Paolo Doan et Công Thanh. Ils imitaient Elvis Presley, Ray Charles, Little Richard et bien d’autres encore. Je n’oublierai pas Jules Tambicannou. Ils sont toujours actifs dans le monde musical. Nous pouvons entendre leurs belles voix ainsi que celles des autres amis dans le CD édité par l’AEJJR l’année dernière.

A cette époque, je dessinais des robes pour mes sœurs et mes amies en suivant la mode des revues Elle, Marie Claire ou Salut les Copains. Ma passion pour la création v[ent peut-être de ces revues françaises . Rien n’est plus beau que notre jeunesse. Né dans la guerre, j’y ai grandi et vécu… Lorsque la guerre a pris fin, j’ai dû quitter mon cher pays natal. C’est une vraie déchirure gravée à vie dans mon cœur…

Après 1975, une nouvelle vie redémarrait à zéro dans mon pays d’accueil. Laissons le passé… C’est très pénible de quitter son pays, de faire table rase de ses études et de tourner une nouvelle page de sa vie. Regardons devant nous. Je me lance dans la vie active sans trop de difficulté. D’architecte, je suis devenu artiste-peintre et designer de mode. Je vis pour la Beauté et la Création.

Depuis 30 ans je travaille à domicile et rien ne m’est plus agréable que d’aller dans mon jardin aménagé suivant le concept du Feng Shui. Là je peux me ressourcer pour des idées nouvelles. Dans cet environnement de soleil, de couleurs, d’ombre et de mi-ombre, je laisse mon imagination errer dans la nature. A travers les feuilles de bambou, je vois apparaître tout mon village natal avec ses activités quotidiennes dans sa tranquillité. C’est le retour des champs avec les bœufs tirant la charrette au crépuscule. Les femmes avec leurs balanciers et leurs paniers vides. Je dessine au crayon une esquisse vite faite pour fixer ce moment de bonheur d’évasion mentale. Un tableau est créé.

Pour moi, la question du temps ne compte pas. Le travail n’est que plaisir et rêverie. Parfois mes désirs m’entraînent vers les femmes pour mes peintures de nus. Ah ! ces formes naturelles si belles à voir et si douces à toucher !

Habiller les femmes pour la mode et les déshabiller pour le dessin est tout un art. C’est l’Art de profiter de la vie tout en essayant de comprendre notre existence sur terre. Je cherche à donner un sens à ma vie avec la philosophie et l’enseignement de la sagesse de Confucius.

Avec une base architecturale assez solide, il est plus facile de mieux comprendre le concept de la vie avec la Nature : le Feng Shui. Le Feng Shui se base sur l’explication que toute chose physique et toute direction contiennent des attributs qui entretiennent des rapports mutuels.

Tout ce qui existe dans l’univers se trouve dans cinq éléments fondamentaux. Ces cinq éléments sont la terre, le feu, le métal, l’eau et le bois. C’est là que les noms “Vent et Eau” ont pris tout leur sens. Cette science s’intéresse à l’environnement. Elle permet de sélectionner et d’organiser un environnement dans lequel les énergies du yin et du yang se trouvent en équilibre. Mes créations de mode et tableaux laqués sont imprégnés de ces principes, depuis le choix du thème, la composition, l’équilibre, jusqu’aux couleurs. Ils sont basés sur cet art de mieux vivre pleinement avec les douceurs de la Nature.

Pour moi, la peinture n’est en fait qu’une recherche de la forme et de l’expression du cœur avec la compassion. Pour l’artiste c’est un passe-temps créatif dans une ambiance très Zen. Mes tableaux représentent certains paysages d’une beauté simple et rêveuse du Viêt Nam A Huê, un petit coin de mon pays natal peint de couleurs lumineuses. La rivière des Parfums longeant la Cité Impériale coule calmement dans la fraîcheur. Au Sud, serpente le Dông Nai en terre sereine qui a pu garder sa tranquillité. Ces splendides paysages au crépuscule ou à l’aurore sont des enchantements.

Le son de l’esprit qui fait vivre le mouvement, peut s’interpréter dans le sens de la vitalité végétale . Il imprègne les éléments de la nature tout autant que l’artiste. Il doit être capté dans la peinture de manière à en rejaillir pour être perçue et ressentie par le spectateur. Le Feng Shui englobe un très vaste domaine qui existe depuis plus de 3000 ans. Il est bien entendu difficile de parler de tout cela en quelques lignes. Je pense que c’est une voie raisonnable qui nous aidera à mieux apprécier et comprendre la vie.

Soyez les bienvenus dans le monde du Dragon, du Tigre, de la Tortue et du Phoenix. “Long, Lân, Quy, Phụng” sont les quatre animaux fétiches que chaque habitation doit avoir. Ils sont placés à des endroits précis dans la maison. Leur présence nous aidera à réaménager la disposition et l’équilibre du logement pour le bien être.

C’est bien agréable d’aimer son travail, de profiter de la paix et la plénitude de la vie. Le travail n’est plus une contrainte mais il devient un plaisir ou même une passion. Avec le Feng Shui, nous apprenons comment donner un équilibre pleinement harmonieux et une existence agréable à tous ceux qui résident dans cet environnement. Le temps fuit mais les souvenirs restent, tout comme les rêves dont se nourrit l’âme humaine.

Le Bonheur est peut être là.

Hoang Dinh Tuyen

.

Hoang Dinh Tuyen et ses creations de mode (Paris)

.